Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Bạn có biết TIỀN CỔ VIỆT NAM


Bạn có biết
TIỀN CỔ VIỆT NAM
Hoàng Việt (st)


Tiền cổ Việt Nam góp phần phản ánh tình hình kinh tế – xã hội từng triều đại của nước ta. Tiền cổ là hiện vật có giá trị nghiên cứu lớn cho các nhà sử học, kinh tế… Đồng tiền đi vào cuộc sống trong mỗi gia đình. Câu ca dao cổ tả người vợ trách chồng:
Một quan tiền tốt mang đi
Anh nắm những gì mà tính chẳng ra
Trước khi đồng tiền xuất hiện, vỏ ốc từng được một số tộc người xa xưa trong chế độ nô lệ trên thế giới dùng làm vật trung gian trao đổi. Vỏ ốc Xy-pra-ê-a chính là “đồng tiền cổ” xuất hiện đầu tiên ở nước ta. Dân tộc thiểu số Khơ Mú và một số bộ tộc người Mường đã dùng vỏ ốc Xy-pra-ê-e. Các thiếu nữ Khơ Mú tích cóp vỏ ốc làm của hồi môn và để làm đồ trang sức.
Phải đến triều đại Đinh Tiên Hoàng hùng mạnh, đồng tiền đúc ở nước ta mới ra đời. Đồng tiền được đúc bằng đồng, hình tròn, lỗ vuông, có thể xâu thành chuỗi tiện việc di chuyển. Mặt phải của đồng tiền cổ đúc bốn chữ Thái Bình Hưng Bảo, mặt sau có chữ Đinh. Tiếp đó, triều đại nào “cũng đúc tiền”. Tiền có nhiều loại, nhiều kiểu, với tác dụng chủ yếu là vật trung gian trao đổi hàng hoá. Nhưng cũng có đồng tiền đúc ra để khen thưởng (thường là bằng vàng). Cũng có đồng tiền chỉ là mỹ hiệu. Trong cuốn Biên niên biểu ghi những sự kiện lớn trong lịch sử hoá tệ (của Tung Quốc), tác giả Bành Tín Uy thừa nhận: năm 970, Đinh Bộ Lĩnh ở Việt Nam đúc tiền Thái bnh Hưng bảo. Nhà Tiền lê (980 – 1009), nhà Lý (1010 – 1225) tiếp tục cho đúc tiền. Ngay từ năm đầu lên ngôi vua, và dời đo từ Hoa Lư về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) cho đúc tiền Thuận Thiên đại bảo đã xuống chiếu “phát tiền cho hai vạn quan, thuê thợ làm chùa Thiên Đức”. Trong 175 năm nhà Trần (1225 – 1400) nền kinh tế – xã hội nước nhà phát triển hơn trước. Công thương nghiệp, kể cả ngoại thương, có nhiều tiến bộ. Các cơ sở thủ công nghiệp phát triển. Kinh thành mở rộng tới 61 phường. Đơn vị tiền được Nhà nước quy định thống nhất. Việc đúc tiền phát triển. Vua Trần Thái Tông (1225 – 1258) quy định: một tiền ăn 70 đồng tiền. Sử chép: tháng 4 năm Bính Tý, niên hiệu Quang Thái năm thứ chín 91396), bắt đầu phát hành tiền giấy, có in: Thông bảo hội sao. Vua Trần Thuận Tông (1388 – 1398) cũng cho in tiền giấy. Một quan tiền đồng đổi được 1 quan 2 quan tiền giấy. Giấy 10 đồng vẽ rồng, 30 đồng vẽ sóng, một tiền vẽ mây, hai tiền vẽ rùa, ba tiền vẽ lân, năm tiền vẽ phượng, một quan vẽ rồng. Thu tiền đồng vào kho Ngao trì ở Kinh Đô.
Triều đại Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương, tuy chỉ tồn tại có bảy năm (1400 – 1407), nhưng đã tiến hành một số cải cách về tiền tệ. Các chính sách lớn của triều đại này là: chính sách hạn điền, hạn nô và phát hành tiền giấy.
Dưới triều Lê Sơ (1428 – 1527), không thấy xuất hiện tiền giấy vì “tiền giấy là vật vô dụng mà cho lưu hành ở trong dân hữu dụng, thực không phải với cái ý yên dân dùng của”. Năm 1428, Lê Lợi cho đúc tiền Thuận thiên thông báo, to đẹp hơn so với đồng tiền thời Trần. Năm 1509 vua Lê Tương Dực cho dùng cả bạc. Mỗi thoi bạc nặng 1,030 Kg. Đồng tiền đầy đặng không pha kẽm hoặc thiếc hoặc gang, như các triều đại sau đó. Nhà sử học Phan huy chú đánh giá tiền đúc dưới thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) là những đồng tiền mẫu mực nhất của nước ta. Đồng tiền dưới triều Lê Hiến Tông 91498 – 1504) có phần năng hơn đồng tiền các thời trước. Từ năm 1527 nhà Mạc, nhà Trịnh đều đúc tiền, tiền kưu hành riêng cho từng vùng. Mạc Đăng Dung cho đúc tiền đồng pha kẽm và sắt. Thời Lẻ Trung Hưng (1533 – 1788) cũng đúc tiền, nhưng đến vua Lê Hiển Tông (1676 – 1705), việc đúc tiền mới đi vào nề nếp thường xuyên. Đến đời Lê Hiền Tông (1740 – 1786), lại có tiền Trung ương, tiền địa phương. Triều đại Tây Sơn tồn tại 24 năm (1778 – 1802), nhưng nước nhà thịnh Vượng là 5 năm dưới triều vua Quang Trung 91778 – 1792). Nhà Tây Sơn đã đúc 37 kiểu tiền. Điều này chứng tỏ các vua Tây Sơn ra sức xây dựng nền kinh tế nước nhà độc lập tự chủ. Chính vua Quang Trung đã ban chiếu khuyến nông: “Mở cửa ải, thông chợ búa, khiến hàng hoá không ngưng đọng, lợi cho sự tiêu dùng của dân”.
 Xét về mặt mỹ thuật và chất lượng, tiền đúc thời Tây Sơn không sánh kịp tiền đúc dưới triều Nguyễn, mặc dù vậy, nhân dân vẫn ưa dùng tiền Tây Sơn, cũng vì quý mến người anh hùng áo vải. Vua Gia Long đúc cả tiền thoi đồng thoi bạc, thoi vàng, một thoi mười lạng bạc ăn 28 quan tiền đồng. Thoi 1 lạng vàng ăn 16 lạng bạc. Các triều vua nối tiếp đều đúc tiền đồng, vàng thoi, bạc thoi, tiền vàng, tiền bạc. Năm 1875, thực dân Pháp lập ra Ngân hàng Đông Dương. Đồng bạc của Pháp thao túngnh tế nước ta. Đồng Tiền triều Nguyễn  sụt giá. Vì thiếu đồng, tiền kẽm xuất hiện dưới triều Tự Đức, các vua Nguyễn đều đúc tiền. Một đồng tiền Khải Định ăn ba đồng tiền Bảo Đại. Vì thế trong nhân dân ta có câu ca dao:
Ba con đổi lấy một cha,
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền.
Đồng tiền Bảo đại không đúc theo kiểu truyền thống mà dùng máy dập bằng đồng lá, tuy nhỏ nhưng đẹp. Tuy nó đẹp nhưng đã đánh dấu chấm hết cho việc các triều đại phong kiến nước ta đúc tiền đồng.

Chính sách nội trị và ngoại giao của nhà Tiền Lê qua thi pháp của thiền sư Đỗ Pháp Thuận


Chính sách nội trị và ngoại giao của nhà Tiền Lê qua thi pháp của thiền sư Đỗ Pháp Thuận


Lê  Cung *

Chiến thắng Bạch Đằng (938) đã đập tan âm mưu lâu dài của phong kiến phương Bắc muốn biến nước ta thành quận, huyện của Thiên triều Trung Quốc, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho đất nước. Nhưng do chính sách đô hộ kéo dài của phong kiến phương Bắc, sau khi giành được độc lập, đất nước đứng trước những thách thức to lớn. Nạn tái xâm lăng nước ta từ phía phong kiến phương Bắc vẫn mang tính thường trực; trong lúc đó các triều đại độc lập đầu tiên (Ngô, Đinh) đang còn non trẻ, chính sách cai trị, luật pháp, kỹ cương phép nước đang còn phôi thai [1] dễ dẫn đến nội bộ triều đình phân hóa, mâu thuẫn [2] mỗi khi giặc xâm lăng bên ngoài đã bị đẩy lùi.
Trước một tình thế như vậy nên ở vào buổi đầu khởi nghiệp, vua Lê Đại Hành mời thiền sư Đỗ Pháp Thuận tham gia vào việc trù định kế sách của triều đại. Thiền sư Đỗ Pháp Thuận sinh năm 915, mất năm 990. Sách Thiền uyển tập anh cho biết: “Thiền sư Pháp Thuận chùa Cổ Sơn, Thừ hương, quận Ải. Không biết người ở đâu [3]. Sư họ Đỗ, học rộng, thơ hay, có tài giúp vua, rõ việc đương thời.  Nhỏ xuất gia, thờ thiền sư Phù Trì chùa Long Thọ làm thầy. Khi đã đắc pháp nói ra lời nào cũng hợp với sấm ngữ. Đương lúc nhà Lê mới dựng nghiệp, trù định kế sách, Sư tham dự đắc lực. Đến khi thiên hạ thái bình, Sư không nhận phong thưởng. Hoàng đế Lê Đại Hành càng kính trọng, thường không gọi tên, chỉ gọi Đỗ Pháp sư, đem việc văn thư giao phó cho Sư”  [4].
Sử liệu trên đây giúp chúng ta hiểu được Thiền sư Đỗ Pháp Thuận là người được vua Lê Đại Hành kính trọng vào bậc nhất trong số các vị thiền sư lúc bấy giờ, vua thường không gọi tên, chỉ gọi Đỗ Pháp sư. Không những thế, vua Lê Đại Hành đã đặt hết niềm tin ở thiền sư Pháp Thuận khi đem việc văn thư giao phó cho Sư”, đặc biệt là vua Lê Đại Hành đã tham vấn nhà sư về vận nước, nghĩa là vấn đề sinh tử, tồn vong của triều đại (triều Tiền Lê). Khi được hỏi về vận nước, Đỗ Pháp Thuận đã trả lời vua Lê Đại Hành bằng một bài kệ :
Vận nước như mây quấn,
Trời Nam hưởng thái bình.
Vô vi trên điện các,
Chốn chốn dứt binh đao.
Nguyên văn:
Quốc tộ như đằng tạc,
Nam thiên lý thái bình.
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh.
Sự xuất ngôn của thiền sư Đỗ Pháp Thuận với bài kệ trên đây đặt trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nguy cơ của cả thù trong giặc ngoài, vận mệnh triều đại đang bị đe dọa nghiêm trọng như đã nêu. Bằng thiên tư trí tuệ, sự nhạy bén về chính trị, Thiền sư Đỗ Pháp Thuận khẳng định chắc nịch rằng để đất nước thái bình, triều đại trường tồn, điều quan trọng bậc nhất là toàn dân đoàn kết (cuộn mây). Từng cá nhân riêng rẻ giống như từng sợi mây tất sẽ trở nên yếu đuối không tránh khỏi bị tiêu diệt mỗi khi kẻ thù ngó tới, nhưng khi toàn dân đoàn kết như một cuộn mây thì không một kẻ thù nào địch nổi.
Về sau, vấn đề đoàn kết, nhân dân ta thường sử dụng hình ảnh bó đũa hoặc: Đoàn kết là sống, chia rẻ là chết; Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.
Không chỉ toàn dân đoàn kết, mà hơn thế nữa để toàn dân đoàn kết, Pháp Thuận đòi hỏi bậc nhân chủ phải hành xử vì quyền lợi nhân dân, tức là phải vô vi (vô vi trên điện các). Với Phật giáo, vô vi (asamskrta) tức là “cẩn thận không kiêu ngạo, là hạnh của học sĩ, bỏ lòng dơ ân ái, không lấm bụi bặm của sáu tình, không để các ái nhỏ như tóc tơ che giấu trong lòng mình thì các niệm lắng diệt ” [5]. Vô vi mới tạo được niềm tin trong nhân dân, để từ đó họ xả thân bảo vệ đất nước, vương triều.
Ý tưởng đại đoàn kết toàn dân, bậc nhân chủ phải vì quyền lợi của nhân dân mà hành động được thiền sư Pháp Thuận trả lời vua Lê Đại Hành cách đây hơn mười thế kỷ được xem như là một luận điểm chính trị vượt thời gian và không gian. Đây chính là bí quyết để đất nước thái bình, nhân dân an lạc. Nó đã trở thành một di sản quý báu của dân tộc, được phát triển qua dòng thời gian và đã trở thành chiếc  “gươm thần” để nhân dân ta quật đổ bao kẻ thù hung bạo, giữ vững được nền tự chủ của đất nước.
Trên mặt trận ngoại giao, đóng góp của thiền sư Đỗ Pháp Thuận cũng hết sức nổi bật. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Năm Đinh Hợi Thiên Phúc thứ 8 (987) mùa Xuân, ... nhà Tống lại sai Lý Giác đến. Tới chùa Sông Sách, vua sai pháp sư tên Thuận giả làm giang lệnh đi đón. Giác rất giỏi  văn chương. Bấy giờ, gặp lúc có hai con ngỗng bơi trên mặt nước, Giác vui ngâm:
                  Ngỗng ngỗng cả bầy ngỗng [6]
                                      Ngữa mặt ngó ven trời.
              Nguyên văn:   Nga nga lưỡng nga nga
              Ngưỡng diện hướng thiên nhai.
Pháp Thuận đang cầm chèo liền nối vần ngay:
                           Lông trắng phơi dòng biếc
                          Sóng xanh chân trời hồng.
     Nguyên văn:  Bạch mao phô lục thủy
              Hồng trạo bãi thanh ba.
Hầu như lâu nay trong giới nghiên cứu đều thống nhất rằng chính sự nối vần, hay nói cụ thể hơn là tài ứng xử bằng văn thơ của Pháp Thuận làm cho Lý Giác vô cùng thán phục, nên khi đến sứ quán, Lý Giác đã có bài thơ tặng Pháp Thuận:    
            May gặp thời minh giúp được mưu
Một thân hai lượt sứ Giao Châu
Đông Đô đôi biệt lòng thêm luyến
Nam Việt muôn trùng ngóng chửa bưa
Ngựa đạp mây mù qua sóng đá
Xe rời núi biếc thả dòng đưa
Ngoài trời lại có trời soi nữa
Sóng lặng khe đầm ngắm nguyệt thu.
Nguyên văn:
Hạnh ngộ minh thời  tán thịnh du
Nhất thân nhị độ sứ Giao Châu
                   Đông Đô lưỡng biệt tâm vưu luyến
 Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu,
Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch,
Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu
Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,
Khê đàm ba tĩnh kiến  thiềm thu
Đỗ Pháp Thuận đem bài thơ dâng lên vua Lê Đại Hành. Vua hỏi Khuông Việt Thái sư. Khuông Việt nói: “Bài thơ này tôn trọng bệ hạ cùng với chúa nó không khác”. Ứng xử ngoại giao của thiền sư Đỗ Pháp Thuận đã khiến Lý Giác đi từ chỗ thán phục thần dân Đại Cồ Việt đến sự ngưỡng mộ vua Lê Đại Hành không khác gì hoàng đế triều Tống.
Tuy nhiên, sự nhận thức về mặt chính trị qua cách ứng xử ngoại giao của Pháp Thuận không chỉ có thế. Bởi không chỉ là một sự nối vần sắc sảo của Pháp Thuận mà dẫn đến sự thán phục và sự ngưỡng mộ của Lý Giác đối với thần dân và bậc nhân chủ của Đại Cồ Việt như đã đề cập ở trên. Chắc chắn trong cách ứng xử ngoại giao giữa Pháp Thuận và Lý Giác còn ẩn chứa những ý nghĩa cao hơn mà chính những người uyên Phật, thâm Nho như Pháp Thuận mới với tới.
  Song song ngỗng một đôi
  Ngữa mặt ngó ven trời
Thực ra, đây là một lối chơi chữ mang tính kiêu ngạo của sứ thần Lý Giác, mà không chỉ riêng Lý Giác, đây là thái độ phổ biến của sứ thần phương Bắc. Ý Lý Giác xem vua và dân Đại Cồ Việt như là bầy ngỗng đang ngẫng mặt hướng về thiên triều thần phục. Ngôn ngữ ngoại giao mà Lý Giác sử dụng, thoạt nhìn thật là nhẹ nhàng, bay bổng; song nhìn kỹ quả thực là một sự nhục mạ, một thách thức lớn lao đặt ra với Đỗ Pháp Thuận.
Với trách nhiệm một công dân, cao hơn còn là một vị thiền sư giữ trọng trách đối với vận nước Đại Cồ Việt, Đỗ Pháp Thuận hiểu hết thâm ý của sứ thần Lý Giác nhưng vẫn với thái độ ung dung tự tại, nối vần một cách hết sức sắc sảo, để từ hai câu thơ của Lý Giác trở thành một bài thơ hoàn chỉnh. Nhưng sự nối vần của Đỗ Pháp Thuận ở đây không chỉ nhìn đơn thuần về mặt thi ca mà phải được hiểu đây là một thái độ ứng xử chính trị trên phương diện ngoại giao.
                  Lông trắng phơi dòng biếc
Sóng xanh chân trời hồng
Lông trắng ở đây được hiểu là sự công khai (bạch hóa). Một sự công khai được phô bày nơi công cộng (lục thủy). Ở đây, Pháp Thuận muốn tỏ cho sứ thần Lý Giác hiểu rằng Đại Cồ Việt đã giành được độc lập và công khai sự độc lập này đối với thiên triều qua Lý Giác. Và nếu có chăng một thế lực nào đó, dù là thiên triều đi nữa, với âm mưu xâm phạm nền độc lập, nhân dân Đại Cồ Việt sẵn sàng đứng lên bảo vệ bằng chính sức mạnh của mình (hồng trạo). Hồng trạo ở đây được hiểu là mái chèo màu hồng, thuyền lướt được là nhờ mái chèo, cũng có nghĩa Đại Cồ Việt sẽ vững bước lướt qua mọi phong bao bão táp mà tiến lên bằng sức mạnh của chính mình (màu hồng tượng trưng cho sức mạnh) .
Như chúng ta đã biết, trước lúc tiến hành cuộc xâm lược Đại Cồ Việt năm 981, Triệu Khuông Nghĩa, hoàng đế triều Tống đã gửi thư cho Lê Đại Hành, do Lư Đa Tốn mang qua năm 980, với lời lẽ đe dọa: “Ta đang chuẩn bị xe ngựa quân lính, sắp xếp các thứ chiêng trống, nếu qui phục thì ta tha cho, nếu trái lệnh thì ta quyết đánh. Theo hay chống, lành hay dữ, tự ngươi xét lấy” [7]. Nhưng rồi quân  Tống đã bị thất bại nhục nhã. Năm 896, Lý Giác được triều Tống cử đi sứ Đại Cồ Việt, được vua Lê Đại Hành trao trả hai tên tướng là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt trong cuộc chiến tranh xâm lược Đại Cồ Việt năm 891. Phải chăng sự thất bại của quân Tống vẫn còn ám ảnh Lý Giác, nên khi nghe Đỗ Pháp Thuận nối vần bằng hai câu thơ, y đã phải giật mình hiểu tại sao quân Tống thất bại và ngay cả chính bản thân mình giờ đây cũng phải chuốc lấy thất bại trên mặt trận ngoại giao. Điều này giúp chúng ta nhận thức được vì sao Lý Giác đã có bài thơ chứa đựng lời lẽ đầy thán phục Đỗ Pháp Thuận và ngưỡng mộ Lê Đại Hành như đã đề cập ở trên.
Rõ ràng qua công tác ngoại giao mà Đỗ Pháp Thuận góp sức, cho thấy ý thức dân tộc Việt từ thời Tiền Lê đã vững mạnh, vị thế Đại Cồ Việt trên trường quốc tế, nói cụ thể hơn trong quan hệ với Tống triều Trung Quốc, đã được nâng lên một tầm cao mới. Tác giả Lê Mạnh Thát đã có lý khi cho rằng: “Sự kiện đối đáp giữa Pháp Thuận và Lý Giác đã chứng tỏ sự trưởng thành của ý thức dân tộc trong mọi người dân, nhất là trong tầng lớp trí thức Phật giáo, mà Pháp Thuận là một đại biểu xứng đáng. Họ ao ước làm thế nào để nâng thể diện quốc gia trước sứ bộ đối phương, mà cho đến lúc ấy vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược và quận huyện hóa đất nước Đại Cồ Việt. Nền độc lập dân tộc vì thế cần phải được bảo vệ dưới mọi hình thức. Nhận thức được ý nghĩa của sự kiện trên, mấy trăm năm sau, Lê Quý Đôn còn phải ngỡ ngàng để ghi nhận trong Kiến văn tiểu lục:
Thuận sư thi cú
Tống sứ kinh dị”  [8].
Di thảo của thiền sư Đỗ Pháp Thuận chúng ta chỉ tìm thấy vỏn vẹn chưa đến hai bài thơ, chính xác là một bài rưởi, gồm cả thảy 6 câu 30 chữ. Nhưng đây chính là sự kết tinh nhuần nhuyển giữa tư tưởng siêu việt của Phật giáo và trí tuệ Đại Cồ Việt mà người thể hiện là thiền sư Pháp Thuận. Sáu câu thơ nhưng hàm chứa  những tư tưởng lớn về nội trị và ngoại giao của một đất nước thật là điều hiếm có trong lịch sử. Làm được như vậy, Pháp Thuận đã hành hóa theo đúng “tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳn yên vui  và no ấm” [9]. Tinh hoa Phật giáo Đại Cồ Việt qua sự chứng ngộ của thiền sư Đỗ Pháp Thuận thực sự đã chuẩn bị cho sự thăng hoa của Phật giáo Đại Việt vào thời đại Lý – Trần; và điều như là hiển nhiên trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tinh hoa Phật giáo Đại Cồ Việt cần phải được phát huy bởi như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một” [10].

[1]. Dưới các triều Ngô, Đinh và Tiền Lê, luật pháp thành văn chưa được soạn thảo. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua (chỉ Đinh Tiên Hoàng - TG) muốn lấy uy thế để ngự trị thiên hạ mới đặt vạc dầu lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ ở trong cũi, hạ lệnh rằng: Người nào trái phép sẽ phải chịu tội bỏ vào vạc dầu nấu hay cho hổ ăn. Mọi người sợ phục không dám trái”.
[2]. Sau khi Ngô Quyền mất năm 944, em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi, tiếp theo là mâu thuẫn nội bộ nhà Ngô, đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn với 12 sứ quân. Cuối năm 967, Đinh Bộ Lĩnh đập tan “loạn 12 sứ quân”, rồi lên ngôi hoàng đế vào đầu năm 968, tức Đinh Tiên Hoàng. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị một viên quan là Đỗ Thích ám hại. Đất nước lại một lần nữa rơi vào hỗn loạn. Nắm lấy cơ hội này, năm 981, nhà Tống quyết định đem quân sang xâm chiếm Đại Cồ Việt.
[3]. Trong “Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập 2. Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2001”, trên cơ sở phân tích tư liệu, Lê Mạnh Thát khẳng định thiền sư Đỗ Pháp Thuận người quê Thanh Hóa. 
[4]. Thiền uyển tập anh, tờ 49a2-b4.
[5]. Dẫn theo Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập 2. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 499.
[6]. Thực ra, câu này dịch: “Song song ngỗng một đôi” chưa chính xác lắm bởi ý tứ của câu này có thể là một bầy ngỗng, chứ không chỉ là hai con ngỗng mà thôi.  
[7]. Đại Việt sử ký toàn thư 1 tờ.
[8]. Lê Mạnh Thát, Sđd., tr. 492-493.
[9]. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 8. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 290. 
[10]. Lê Cung. Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 (Bản in lần thứ tư). Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2008, tr. 36.

TỪ VĂN LANG ĐẾN THĂNG LONG – QUÁ TRÌNH TÌM CHỌN KINH ĐÔ MUÔN ĐỜI CỦA ĐẤT NƯỚC

TỪ VĂN LANG ĐẾN THĂNG LONG – QUÁ TRÌNH TÌM CHỌN KINH ĐÔ MUÔN ĐỜI CỦA ĐẤT NƯỚC

GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc
( Bài đăng trên báo Nhân dân ngày 3 tháng 8 năm 2010)
Kinh đô là trung tâm chính trị, hành chính, quân sự, kinh tế và văn hóa của đất nước. Dời đô và định đô là công việc có ý nghĩa trọng đại không chỉ phản ánh nhu cầu của triều đại, đất nước và xã hội, mà còn là thước đo trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, văn minh của một đất nước, một vương triều.
Thời đại dựng nước của Việt Nam được mở đầu trong khoảng từ 6-7 thế kỷ trước Công nguyên đến một vài thế kỷ sau Công nguyên với sự ra đời của ba nhà nước: Văn Lang ở khu vực Bắc Bộ, Chămpa ở khu vực Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Phù Nam chủ yếu ở khu vực Nam Bộ, nhưng dòng chủ lưu của toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam được tính từ nhà nước Văn Lang, Âu Lạc qua nghìn năm Bắc thuộc đến các quốc gia Đại Việt, Đại Nam và Việt Nam. Trong giai đoạn lịch sử từ khi nhà nước đầu tiên xuất hiện cho đến đầu thế kỷ XI, nếu chỉ quan sát riêng dòng chủ lưu, không tính những chính quyền đô hộ của ngoại bang, đã trải qua nhiều lần chuyển đổi trung tâm chính trị-hành chính của đất nước, từ Cổ Loa, Hoa Lư đến Thăng Long. Mỗi lần định đô và dời đô đều có những lý do, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhưng đều như những bước chuẩn bị cho công cuộc định đô ở Thăng Long của Lý Thái Tổ vào năm 1010.
Vua Hùng dựng nước Văn Lang vào khoảng thế kỷ thứ VII hay thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, lấy tên kinh đô là Văn Lang. Tương truyền Hùng Vương từ ngày đầu dựng nước đã chọn ngã ba sông Bạch Hạc (tương đương với khu vực thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) làm địa điểm xây dựng kinh đô Văn Lang. Nước Văn Lang tồn tại từ khoảng thế kỷ thứ VI đến năm 208 trước Công nguyên. Trong gần một nửa thiên niên kỷ ấy, trên đất Văn Lang, kỹ thuật rèn sắt đã có những bước phát triển lớn, công cụ sản xuất bằng sắt từng bước giữ vai trò chủ đạo trong nền sản xuất nông nghiệp và nông nghiệp dùng cuốc đang chuyển dần sang nông nghiệp dùng cày. Năng suất lao động được nâng cao, đời sống cộng đồng được cải thiện và cảnh quan đồng bằng thay đổi nhiều. Nước Âu Lạc ra đời trên căn bản hợp nhất giữa Tây Âu và Lạc Việt, giữa Hùng và Thục, trong bối cảnh cộng đồng cư dân đã khai thác được toàn bộ vùng châu thổ, biến thành đồng ruộng, xóm làng, phát triển thâm canh nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước. Theo đà phát triển này, trung tâm đất nước có xu hướng chuyển về khu vực trung tâm châu thổ sông Hồng. Và An Dương Vương đã quyết định dời đô xuống Cổ Loa, ngay phía trên ngã ba sông Hồng và sông Đuống.
Khảo cổ học đã tìm thấy di tích văn hóa Sơn Vi ở Cổ Loa chứng tỏ từ hậu kỳ Đá cũ cách ngày nay khoảng một vạn năm nơi đây đã có con người sinh sống. Tuy nhiên, sau đó là thời kỳ biển tiến và suốt trong thời đại Đá mới, vùng đất Cổ Loa lại vắng bóng người. Mãi cho đến đầu thời đại Kim khí, cùng với quá trình biển thoái, người Phùng Nguyên tràn xuống Cổ Loa và khu vực trung tâm châu thổ sông Hồng lập ra những xóm làng sống bằng nghề trồng lúa nước, làm vườn, đánh bắt thủy sản và săn bắn. Trên địa bàn huyện Đông Anh ngày nay, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trên những doi đất cao hai bên bờ sông Hoàng Giang các di chỉ Đồng Vông (Dục Tú), Bãi Mèn (Cổ Loa), Đình Tràng lớp dưới (Dục Tú), Xuân Kiều, Lỗ Khê (Liên Hà) thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên; các di chỉ Tiên Hội, Bãi Mèn lớp trên, Đình Tràng lớp giữa, Xuân Kiều lớp trên thuộc giai đoạn Đồng Đậu và Đường Mây (Cổ Loa), Đình Tràng lớp trên thuộc giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Ngoài ra ở Cổ Loa còn tìm được rất nhiều các hiện vật đồng như mũi tên đồng, lưỡi cày đồng, trống đồng, rìu đồng, trong đó trống đồng, mũi tên đồng và lưỡi cày đồng là các hiện vật đặc trưng và tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn. Như vậy, trải qua quá trình phát triển lâu dài và liên tục từ sơ kỳ thời đại đồ đồng cho đến sơ kỳ thời đại đồ sắt, vùng đất Cổ Loa cũng đã hình thành một trung tâm dân cư, trung tâm kinh tế và văn hóa quan trọng của nước Văn Lang.
Dấu tích còn lại ở Cổ Loa cũng cho phép xác định tòa thành Cổ Loa gồm ba vòng thành và hào khép kín. Thành Nội hình chữ nhật, chu vi 1.730m, mở một cửa về phía nam. Thành Trung có chu vi 6.300m, mở năm cửa: Nam, Đông, Bắc, Tây Bắc, Tây Nam. Thành Ngoại có chu vi 7.789m, có ba cửa: Đông, Tây, Bắc và cửa Nam chung với cửa Nam của thành Trung. Thành Cổ Loa là một kiến trúc quân sự đồ sộ, kiên cố, được phòng vệ chắc chắn, kết hợp chặt chẽ giữa quân bộ và quân thủy. Mặc dù sau này tòa thành được nhiều lần tái sử dụng, tu sửa hay xây đắp thêm, nhưng những dấu tích còn lại cho đến ngày nay trên căn bản vẫn là hình ảnh tòa thành kinh đô của nước Âu Lạc xưa. Trong thành, An Dương Vương cũng đã xây dựng đền đài, cung điện. Khu vực Đền Thượng được coi là nơi ở của nhà vua và khu vực đình Ngự Triều Di Quy là nơi thiết triều.
Năm 179 trước Công nguyên, do sai lầm chủ quan của An Dương Vương, nước Âu Lạc bị rơi vào tay Triệu Đà. Thành Cổ Loa mất đi vị trí kinh thành, nhưng vẫn được các chính quyền đô hộ tiếp tục khai thác, sử dụng như những trung tâm chính trị-hành chính địa phương.
Nhà Đông Hán đặt trung tâm của chính quyền đô hộ ở Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh). Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của Đông Hán, chiếm thành Cổ Loa làm bàn đạp tấn công giải phóng Luy Lâu, giành lại nền độc lập, chọn Mê Linh (Hạ Lôi, Mê Linh, Hà Nội), ngay trên bờ sông Hồng làm đất đóng đô. Triều đình Trưng Vương chỉ tồn tại 3 năm (40-43), nhưng đã trở thành cột mốc bản lề của lịch sử đất nước, khẳng định các giá trị vĩnh hằng của thời đại dựng nước Văn Lang, Âu Lạc và mở đường, định hướng cho tương lai phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc suốt cả thiên niên kỷ thứ nhất.
Năm 542, Lý Bí – hào trưởng Thái Bình (vùng Sơn Tây cũ) tiến hành cuộc khởi nghĩa dân tộc thành công, đánh đuổi quân Lương ra khỏi bờ cõi. Năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế (Lý Nam Đế), đặt quốc hiệu nước là Vạn Xuân, mở nền độc lập, tự chủ, xây Đài Vạn Xuân làm nơi triều hội. Các nhà sử học đời Nguyễn trong sách Việt sử thông giám cương mục cho rằng: “Nay ở xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì có hồ Vạn Xuân, còn gọi là đầm Vạn Phúc. Vậy điện Vạn Xuân có lẽ là ở đấy”. Lý Nam Đế chọn đất dựng chùa Khai Quốc ở phía ngoài đê Yên Phụ và được chuyển về vị trí cạnh đường Thanh Niên trong Hồ Tây từ đầu thế kỷ XVII. Khi Trần Bá Tiên đem quân sang đánh triều đình Vạn Xuân, Lý Nam Đế đã tổ chức đắp thành ở cửa sông Tô Lịch (khu vực phố Chợ Gạo, quận Hoàn Kiếm) để trực tiếp bảo vệ kinh đô và sau khi thành ở cửa sông Tô Lịch thất thủ, Lý Nam Đế cùng toàn bộ triều đình Vạn Xuân phải rút lên Gia Ninh (Phú Thọ). Các nguồn tư liệu trên cho phép xác định kinh đô Vạn Xuân của Lý Nam Đế được đặt ngay tại vùng đất nội thành Hà Nội hiện nay.
Mặc dù chỉ tồn tại trong khoảng một năm rưỡi (từ tháng 1 năm 544 đến tháng 6 năm 545), nhưng kinh đô Vạn Xuân của Lý Nam Đế lại có vị trí đặc biệt quan trọng, khẳng định vùng đất nội thành Hà Nội đã thực sự phát triển và bắt đầu trở thành một trung tâm của đất nước. Lý Nam Đế là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhận ra vị thế ưu việt của vùng đất nội thành Hà Nội và đưa lên thành quốc đô. Tuy nhiên do thế và lực chưa đủ mạnh và thời gian tồn tại quá ngắn nên hình ảnh kinh đô Vạn Xuân trên vùng đất nội thành Hà Nội mới chỉ là vài nét chấm phá ban đầu.
Triệu Quang Phục tiếp tục sự nghiệp của Lý Nam Đế giành lại nền độc lập, nhưng sau đó bị Lý Phật Tử dùng mưu cướp quyền hành và đất đai. Lý Phật Tử lúc đầu đóng đô ở thành Ô Diên (Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội), nhưng sau một thời gian lại chuyển về thành Cổ Loa và duy trì nhà nước Vạn Xuân cho đến năm 602.
Các chính quyền đô hộ Tùy, Đường đều chọn vùng đất nội thành Hà Nội làm trung tâm của chính quyền đô hộ. Năm 622 nhà Đường đặt ra Giao Châu đô hộ phủ, đến năm 679  đổi thành An Nam đô hộ phủ. Năm 769, nhân việc đánh bại các cuộc tấn công của Côn Luân và Chà Bà, Trương Bá Nghi tổ chức đắp La Thành. Có thể hình dung La Thành của Trương Bá Nghi là tòa thành quân sự kiên cố có quy mô lớn đầu tiên được xây dựng tại khu vực trung tâm nội thành Hà Nội. Các năm 791, 808 Triệu Xương và Trương Chu cho tổ chức đắp thêm và tu sửa tòa thành này. Năm 824, Lý Nguyên Gia cho đắp thêm một thành nhỏ khác ở bên bờ sông Tô Lịch, cũng gọi là La Thành. Năm 866, Cao Biền tổ chức “đắp La Thành vòng quanh 1982 trượng lẻ 5 thước,… lại đắp con đê vòng quanh dài 2125 trượng 8 thước…, cùng làm nhà cửa 40 vạn gian”. Như vậy, tuy cùng được gọi là La Thành nhưng trong thực tế có nhiều tòa thành khác nhau của An Nam đô hộ phủ thời Đường. Những tòa thành này vào các đời sau đã nhiều lần được cải tạo, thay đổi, nên hầu như không còn để lại dấu tích trên mặt đất. Từ năm 2002 đến nay, với các chương trình khai quật khảo cổ học quy mô lớn ở khu 18 Hoàng Diệu và khu khuôn viên Hội trường Ba Đình, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ở lớp dưới cùng của di tích những móng trụ kiến trúc, bó nền nhà, gạch Giang Tây Quân, dấu tích kiến trúc nhà cửa, giếng nước, cống thoát nước, một số đồ gốm sứ Việt Nam, Trung Quốc  và Tây Á… có niên đại từ thế kỉ thứ VII đến thế kỉ IX. Đây chính là những hình ảnh chân thực của An Nam đô hộ phủ thời Đường từng được phản ánh qua các nguồn thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam.
Ở trung tâm của châu thổ sông Hồng, nơi hội tụ và tỏa rộng của các tuyến đường giao thông thủy bộ, có quá trình phát triển lâu dài, đặc biệt vào nửa cuối của thiên niên kỉ thứ nhất, khu vực thành Đại La không chỉ có hệ thống thành hào bề thế và kiên cố làm trụ sở của chính quyền đô hộ, mà đã dần dần hình thành một đô thị quy mô khá lớn và mức độ tập trung dân số cao hơn hắn so với tất cả các vùng khác trong nước.
Đầu thế kỉ X, Khúc Thừa Dụ -  hào trưởng Hồng Châu (Hải Dương ) và Dương Đình Nghệ - hào trưởng Ái Châu (Thanh Hóa) tiếp nối nhau vươn dậy giành quyền tự chủ. Các chính quyền tự chủ đầu tiên của người Việt sau nghìn năm Bắc thuộc đều đóng đô ở thành Đại La.
Năm 938, Ngô Quyền sau trận chiến ở Bạch Đằng lại không chọn thành Đại La mà trở về đóng đô ở Cổ Loa. Ông cho tu sửa lại tòa thành nghìn năm trước, xây dựng đền đài cung điện lên trên các di tích của An Dương Vương. Đôi câu đối cổ ở Đền Thượng mách báo điều này :
                            “Thục quốc sơn hà nguyên Cồ Việt,
                            Loa thành cung cấm tự Tiền Ngô”
                            (Nước Thục non sông nguyên Việt Cồ,
                            Loa thành cung điện tự Tiền Ngô )
Ngô Quyền đã tiến hành nhiều hoạt động xây dựng vương triều, thể chế, nâng tầm kinh đô Cổ Loa thành kinh đô của một quốc gia độc lập. Cổ Loa một lần nữa khẳng định vai trò kinh thành, quân thành và thị thành giống như thời kỳ nhà nước Âu Lạc, nhưng ở tầm cao mới. Tiếc là chỉ sáu năm sau, Ngô Quyền qua đời, triều đình nhà Ngô phân rã và thành Cổ Loa lại bị mất vị trí quốc đô, chỉ còn tồn tại như là cơ sở cát cứ của một sứ quân.
Đinh Bộ Lĩnh mặc dù đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước, lên ngôi Hoàng đế, lập ra vương triều Đinh, nhưng thế và lực chưa đủ mạnh, tình hình vùng châu thổ sông Hồng vẫn còn phức tạp và nhà Tống đang lăm le xâm lấn bờ cõi, nên trở về đóng đô ở Hoa Lư, vừa tranh thủ tăng cường lực lượng, vừa giữ an toàn cho triều đình.
Kinh đô Hoa Lư chủ yếu nằm trên địa phận xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, được bao bọc bởi hệ thống núi đá vôi khá hiểm trở. Nơi đây từ sớm đã là một tụ điểm cư dân ở vào vị trí yết hầu trên trục đường Nam-Bắc, liền sông và không xa biển. Mạch máu giao thông quan trọng nhất nối Hoa Lư với châu thổ sông Hồng và mọi miền đất nước là con đường thủy qua sông Hoàng Long, sông Đáy, đổ ra cửa biển Thần Phù, thông sang Châu Ái và khu vực phía Nam đất nước.
Đinh Bộ Lĩnh cho xây đắp thành lũy nối liền các quả núi tự nhiên lại với nhau tạo nên hai vòng thành khép kín là Thành ngoại và Thành nội. Dấu tích các đền đài cung điện không còn trên mặt đất, nhưng kết quả khai quật khảo cổ học có thể cho phép hình dung một cấu trúc tổng thể các kinh đô và những nét độc đáo của công trình xây dựng quy mô lớn đầu tiên của quốc gia Đại Cồ Việt. Nhà Đinh sụp đổ, Lê Hoàn được sự ủng hộ của Dương Thái Hậu và triều đình Hoa Lư lên ngôi Hoàng đế, lập ra vương triều Lê (Tiền Lê) và tổ chức kháng chiến chống quân xâm lược Tống. Sau chiến thắng, Lê Hoàn tập trung ổn định đất nước, tổ chức lại chính quyền, phát triển sản xuất. Quốc gia Đại Cồ Việt đã thực sự có một đế đô tráng lệ, khiến sứ thần nhà Tống là Tống Cảo khi đến Hoa Lư vào năm 990 cảm thấy “Hoa Lư không khác Trường An đời nhà Hán” .
Trong hơn 42 năm (968-1010), kinh đô Hoa Lư đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, tạo điều kiện cho triều Đinh (968-980) và Tiền Lê (980-1009) củng cố chính quyền trung ương, bảo vệ nền độc lập dân tộc, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất của quân Tống (980-981) và giữ vững nền thống nhất quốc gia, đặt cơ sở cho bước phát triển toàn diện của đất nước.
Nhưng Hoa Lư với địa thế núi non hiểm  trở đã dần dần bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với yêu cầu xây dựng đất nước trên quy mô lớn, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế, mở mang văn hóa. Dưới con mắt của Lý Công Uẩn, người sáng lập vương triều Lý năm 1009, thì “thành Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương” khiến ông “rất đau đớn, không thể không dời”.
Lý Thái Tổ trong Chiếu dời đô khẳng định việc dời đô là việc lớn không thể “theo ý riêng tự tiện chuyển dời”, mà phải “tính kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân”. Vấn đề đặt ra lúc này là dời đô đi đâu?. Lý Thái Tổ chọn thành Đại La với đủ các tiêu chí thủ đô của một quốc gia thống nhất và thịnh đạt “ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam, bắc, đông, tây; tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”.   
Tất cả những điều kiện tự nhiên và kết quả phát triển của lịch sử đã tạo dựng những tiền đề cho Đại La đóng vai trò kinh đô của đất nước thời kỳ phục hưng dân tộc. Lý Công Uẩn không chỉ nhận thức sâu sắc tất cả những tiền đề đó, mà điều quan trọng hơn là ông tin tưởng ở sức mạnh của đất nước, ở tương lai phát triển của dân tộc. Quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La của Lý Công Uẩn là kết quả của một quá trình chuẩn bị, trù tính, tìm chọn của cả dân tộc hàng nghìn năm nên trở thành tuyệt đối đúng, đáp ứng được trọn vẹn không chỉ nhu cầu phát triển của đất nước, ý chí của Hoàng đế và vương triều mà còn là nguyện vọng tha thiết của toàn dân.
Thành Thăng Long với biểu tượng Rồng Bay vừa mang khí thế vươn lên mạnh mẽ của dân tộc, vừa chứa đựng ý niệm thiêng liêng về cội nguồn Rồng Tiên và ước mơ về nguồn nước, mưa thuận gió hòa của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. 
Thành Thăng Long từ thời Lý đã gồm ba vòng thành, trong đó Cấm Thành là trung tâm chính trị của Vương triều. Phía ngoài, cùng với một số cung điện, chùa tháp là khu vực cư trú, buôn bán, làm ăn của dân chúng gồm các bến chợ, phố phường và cả các thôn trại. La Thành là vòng thành ngoài cùng có chức năng vừa là thành lũy bảo vệ vừa là đê ngăn lũ lụt. Ngay từ khi kiến lập kinh thành Thăng Long, Lý Công Uẩn đã triệt để tận dụng địa thế tự nhiên trong quy hoạch xây dựng nhằm biến những sông, hồ thành những con hào tự nhiên, những đường giao thông thủy thuận tiện và một hệ thống thoát nước liên hoàn, điều tiết môi trường, bảo vệ cảnh quan sinh thái.
Điều hết sức đặc biệt là toàn bộ diện mạo kinh thành Thăng Long mà chúng ta biết hiện nay đều được thiết kế và thi công trong khoảng hai thập kỷ đầu Vương triều Lý. Tiếp sau đó, các Vương triều Lý, Trần đã xây dựng mới nhiều công trình kiến trúc quan trọng khác ở cả trong và ngoài Cấm thành, nhưng trên thực tế những kiến trúc này chỉ bổ sung và hoàn thiện thêm quy mô, cấu trúc kinh thành đã được hoàn chỉnh ngay dưới thời Lý Thái Tổ.
Công việc tạo dựng kinh mới “đủ làm chỗ ở của đế vương” vô cùng gian nan vất vả. Nhà sử học đời Trần Lê Văn Hưu (1230-1322) trách Lý Thái Tổ đã “tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể”. Lời trách ấy gián tiếp xác nhận những cố gắng phi thường và thành công tuyệt diệu của ông và thế hệ ông.
Sau Lê Văn Hưu gần nửa thiên niên kỷ, sử thần Ngô Thì Sĩ (1726-1780) đã có đủ cơ sở để nhìn nhận và đánh giá đúng đắn tầm vóc của sự kiện định đô Thăng Long: “Lý Thái Tổ lên ngôi, chưa vội làm việc khác, mà trước tiên mưu tính việc định đô đặt đỉnh, xét về sự quyết đoán sáng suốt, mưu kế anh hùng, thực những vua tầm thường không thể theo kịp. Cho nên truyền ngôi hơn 200 năm, đánh giặc Tống, dẹp giặc Chiêm, nước mạnh dân giàu, có thể gọi là đời rất thịnh trị. Các vua đời sau noi theo đều gìn giữ được ngôi vua, chống chọi với Trung Quốc. Lý Thái Tổ có thể nói là một bậc vua biết mưu tính việc lớn đấy!”
Lý Thái Tổ là người sáng lập ra Vương triều Lý (1009-1226) – Vương triều rạng rỡ văn trị, võ công, khai mở và xác lập thời kỳ phát triển toàn diện và rực rỡ nhất của lịch sử Việt Nam. Ông là con người kết tinh của lịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, khéo biết đúc kết và kế thừa toàn bộ tri thức, kinh nghiệm của cha ông, vươn tới nhãn quan chính trị rộng lớn và tầm nhìn thiên niên kỷ. Ông là nhà thiết kế, nhà thi công, tác giả đầu tiên, vĩ đại nhất của kinh đô Thăng Long – Kinh đô, Thủ đô của quốc gia Đại Việt, của đất nước Việt Nam nghìn năm qua và mãi mãi về sau./

Đinh Bộ Lĩnh- Cuộc đời và những chiến công

Đinh Bộ Lĩnh- Cuộc đời và những chiến công

"Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta...... Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do." Nhân đợt trại "Đinh Bộ Lĩnh II" gửi mọi người mẫu chuyện nhỏ " Cuộc đời và những chiến công lẩy lừng của Đinh Bộ Lĩnh - Đinh Tiên Hoàng". Để từ đó nâng cao lòng tự hào trong mổi chúng ta.


Từ cánh đồng ngoài xa, có tiếng kêu của ai đó về vách đá, vọng vào căn nhà giỗ ven núi:
- Thằng Bộ Lĩnh đánh chết người!

Bà Đàm ngừng tay đưa thoi, lắng nghe. Bà biết rõ con bà lắm. Thằng Bộ Lĩnh đã nhiều lần làm khổ bà vì cái tính nghịch ngợm và bướng bỉnh của nó. Còn giết người thì từ khi sinh ra, Bộ Lĩnh không ở với bố là Đinh Công Trứ đang làm thứ sử ở Hoan Châu mà ở Hoa Lưu với bà mười bốn năm nay, bà chẳng biết nó hay sao? Con bà không làm chuyện ấy. Lại có tiếng nói:

- Bà Đàm ra mà đền con cho người ta kìa!

Nó lại đánh nhau với con cái nhà ai rồi! Nghĩ vậy, bà Đàm đứng dậy, với tay cầm chiếc roi trên vách.

Vừa ra đến đầu động bà đã thấy lũ trẻ chăn trâu kéo nhau về. Một tốp cưỡi trâu đi trước, đứa nào đứa nấy kết lá làm bành, ngồi ngất nghểu trên lưng trâu. Tiếp theo, một tốp khác vác cờ lai đi như rước hội. Bộ Lĩnh đang chễm chệ ngồi trên tay hai đứa trẻ khoanh làm kiệu rước đi giữa, hai bê có mấy đứa cầm cờ lau kiếm gỗ hộ vệ. Bà Đàm bực mình, đi thẳng lại chỗ Bộ Lĩnh. Cây roi trong tay bà vừa vung lên thì Bộ Lĩnh đã tụt vội xuống đất, luồn qua tay bà, rồi chạy lên phía trước. Bộ Lĩnh nhảy tót lên lưng trâu, thúc trâu tế về phía núi.

Thì ra lũ trẻ chăn trâu động Hoa Lư cờ lau tập trận. Đánh nhau với một lũ trẻ khác, bị cướp mất trâu. Bộ Lĩnh giận đuổi bắt thằng bé đầu đàn, quẳng xuống sông. Khi thằng bé sắp chìm, Bộ Lĩnh lại nhảy xuống vớt lên...

Bà Đàm vừa giận con lại vừa lo lắng đến việc dạy con.

Lại một hôm, trong lúc cờ lau tập trận, đoàn trẻ chăn trâu Hoa Lư được tin lũ trẻ sách bên đang đi về phía chúng. Lập tức Bộ Lĩnh cho dàn trận, còn mình thì đeo lên một mỏm đá đứng chỉ huy, tay cầm bông lau là cờ hiệu, thanh kiếm gỗ đeo bên sường. Một trận chiến đấu ác liệt sẽ xảy ra. Không phải thế. Chúng đến để xin nhập bọn. Muốn nhập bọn với Bộ Lĩnh nhưng lại không chịu Bộ Lĩnh làm chủ tướng, nhao nhao đòi đọ tài vật xem ai khỏe hơn mới được làm chủ tướng. Tuy bé nhỏ hơn thằng bé đầu đàn của lẽ trẻ sách bên, nhưng Bộ Lĩnh không do dự, nhận lời đọ sức.

Hai đứa cởi áo xông vào vật nhau. Bộ Lĩnh dùng tài nhanh nhẹn của mình làm cho thằng kia ngả sấp xuống rồi chồm lên lưng hắn ngồi như cưỡi trâu. Thằng kia cố sức vùng dậy. Bộ Lĩnh thúc chân vào sườn hắn mà thét:

- Mau Lên! Cõng chủ tướng về hang núi khao quân!

Lũ trẻ reo lên cười nhìn thằng lớn cõng thằng bé. Có tiếng xì xào: "Thằng Bộ Lĩnh khôn quá, đáng mặt làm chủ tướng".

Thế là đoàn quân trẻ nhỏ lũ lượt diễu binh. Bộ Lĩnh ngồi trên kiệu đi giữa, có tả hữu hộ vệ. Rừng cờ lau đi động men theo sườn núi, tiến về hang đá. Đến nơi, Bộ Lĩnh để lũ trẻ đứng đợi, còn mình thì dẫn mười đứa về nhà.

Nhà Bộ Lĩnh ở cạnh đền Sơn Thần, cách động núi chừng nửa dặm. Hôm đó bà Đàm đi vắng, chỉ còn mấy gia đồng ở nhà. Con lợn hai người khiêng đang ở trong chuồng và mấy thùng gạo nếp được lũ trẻ mang đi theo lệnh của Bộ Lĩnh.

Trong hang núi, tiếng lợn kêu vang, khói bốc nghi ngút. Mùi thịt nướng ngầy ngậy, mùi xôi nếp thơm thơm bốc lên quyến rũ. Lũ trẻ háu đòi quây quần bên bếp lửa reo hò...

Tuổi niên thiếu của Bộ Lĩnh trôi qua với những ngày sôi nổi: Tập trận khao quân rồi lại tập trận khao quân. Cứ như thế, Bộ Lĩnh cùng lũ trẻ chăn trâu gắn bó với nhau như cá với nước.

Bà Đàm lo lắng vì Bộ Lĩnh quá nghịch ngợm nhưng bà cũng mừng thầm có đứa con hơn người. Các cụ bô lão truyền cho nhau: "Đứa trẻ này khí độ như thế tất sẽ làm nên việc lớn, bọn chúng ta nếu không về theo, ngày sau hối không kịp". Còn trẻ chăn trâu quanh vùng ngày càng mến phục và rủ nhau tìm về với Bộ Lĩnh.

Mọi người đang xôn xao vì chuyện cờ lau tập trận của cậu bé họ Đinh thì hàng loạt sự kiện lớn lao rung chuyển núi sông liên tiếp truyền đến Hoa Lư, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để đoạt chức Tiết độ sứ. Rồi Ngô Quyền, thứ sử Ái Châu kéo quân ra hỏi tội kẻ phản trắc. Công Tiễn rước quân Nam Hán về chống lại Ngô Quyền. Cũng năm ấy, Ngô Quyền giết Công Tiễn và bố trí trận thủy chiến ở sông Bạch Đằng để chống giặc. Đội chiến thuyền của giặc Nam Hán cùng với tên tướng Hoằng Tháo bị chôn vùi dưới sông nước. Sông Bạch Đằng đỏ ngầu máu giặc. Đất nước thanh bình. Ngô Quyền lên ngôi vua và đóng ở Cổ Loa.

Năm ấy cậu bé họ Đinh vừa tròn mười sáu tuổi.

Cái tuổi mừơi sáu phơi phới yêu đời của Bộ Lĩnh không chỉ đủ vui với chuyện cờ lau tập trận nữa. Cậu mơ ước sẽ trở thành người chỉ huy thực sự, và muốn làm nên những công tích rung chuyển đất trời như người khác đã làm được. Đinh Bộ Lĩnh đang say sưa với niềm mơ ước đẹp đẽ của tuổi trẻ thì Đinh Công Trứ cha của Bộ Lĩnh, qua đời ở Hoan Châu.

Nhưng năm tháng thanh bình chưa được bao lâu, lại có tin sét đánh: Ngô vương Quyền mất ở Cổ Loa. Dương Tam Kha tiến ngôi vua, tự xưng là Bình Vương. Ngô Xương Ngập con trai của Ngô Quyền phải trốn tránh. Thổ hào các nơi rồi lên chiếm giữ mỗi người một vùng nhằm thôn tính lẫn nhau.

Thấy cảnh đất nước bị chia xé, nghĩ mình không thể ngồi yên được, Bộ Lĩnh liền họp bạn bè lại nói rằng:

- Chúng ta không tập trận giả như trước nữa phải đánh trận thật. Trai thời loạn không thể khoanh tay ngồi một xó mà nhìn. Đất nước đang cần đến chúng ta.

Ai nấy đều cho lời nói của Bộ Lĩnh là phải, liền chia nhau đi tập hợp các bạn bè, rủ nhau theo về với Bộ Lĩnh để cùng lo việc nước. Bộ Lĩnh mổ bò khao quân và kéo về đóng ở sách Đào Úc.

Cả châu Đại Hoàng đã thuộc quyền kiểm soát của Bộ Lĩnh, chỉ còn sách Bông do Đinh Dự chiếm giữ. Bộ Lĩnh đem quân đến thuyết phục. Đinh Dự ở sách Bông nghe tin quân Hoa Lư kéo đến, liến quát:

- Thằng Bộ Lĩnh này láo thật, nó dám đánh lại cả chú nó! Rồi tung quân ra đuổi đánh.

Thấy vậy, Bộ Lĩnh ngửa mặt lên trời than: "Trời ơi! Ta đâu muốn có chuyện nồi da nấu thịt này!" Bộ Lĩnh thu quân chạy. Đinh Dự đuổi đến Đàm Gia, thấy cầu gẫy, rút quân về.

Qua nhiều đêm suy nghĩ, Bộ Lĩnh quyết tâm thu phục sách Bông bằng được. Bộ Lĩnh tập hợp dư chúng, thu thậo thêm quân sĩ, lại dẫn đại quân đến sách Bông. Tới nơi, Bộ Lĩnh cho người mời Đinh Dự ra nói chuyện. Thấy quân của Bộ Lĩnh đông, Đinh Dự không dám tung quân đuổi đánh mà chỉ ra lệnh đóng chặt cổng, leo lên thành quan sát. Thấy chú, Bộ Lĩnh nói:

- Chú ơi! Cháu không chống lại chú, sao chú đuổi đánh cháu. Hiện nay đất nước loạn lạc, cả châu Đại Hoàng đều ở trong tay cháu, chỉ còn sách Bông của chú đứng một mình. Nếu mai đây có kẻ khác đến đánh phá, chú cháu ta mỗi người một phương, làm sao mà chống giữ nổi. Cháu muốn hội quân với chú để cùng lo việc lớn.

Đinh Dự cảm động. Mối tình máu mủ ruột thịt sống lại trong lòng ông già. Đinh Dự sai mở cổng đón Bộ lĩnh vào và giao sách Bông lại cho cháu.

Thu phục được sách Bông, thế lực của Bộ Lĩnh càng lớn mạnh. Nhưng chí lớn của Bộ Lĩnh không dừng lại ở một Châu nhỏ hẹp. Từ Hoa Lư, Bộ Lĩnh vẫn hàng ngày theo dõi tình hình loạn lạc đang diễn ra ở khắp nơi trên đất nước rộng lớn. Những tiếng kêu than rêu siết vì cảnh nồi da nấu thịt, những biến động lục đục ở triều đình Cổ Loa hàng ngày vẫn đến tai Bộ lĩnh.

Năm ấy ở Cổ Loa, Dương Tam Kha sau khi chiếm ngôi được sáu năm, sai Xương Văn cùng hai sứ là Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đi đánh dẹp hai thôn ở Thái Bình. Đến Thanh Liêm, Xương Văn bàn với tướng sĩ dẫn quân về đánh úp Tam Kha, bắt được giáng làm Tương Dương công. Xương Văn giành lại ngôi vua, xưng là Nam Tấn Cương và đón Xương Ngập về cùng trông coi việc nước.

Thấy thế lực của Bộ Lĩnh ngày một mạnh, triều đình Cổ Loa muốn đánh dẹp để trừ hậu họa. Được tin, Bộ Lĩnh cho con trai là Đinh Liễn đến Cổ Loa để làm kế hòa hoãn. Nam Tấn Cương Thiên Sách Vương (Xương Ngập) bắt giữ Đinh Liễn rồi cắt quân đánh Bộ Lĩnh. Bộ Lĩnh đóng chặt cửa động, chống cự đến cùng. Đánh nhau với Bộ Lĩnh hơn một tháng trời không hạ được, Nam Tấn Vương bèn treo Đinh Liễn lên ngọn cây dọa nếu Bộ Lĩnh không hàng sẽ giết chết Đinh Liễn. Thấy vậy Bộ Lĩnh giận dữ quát:

"Bậc đại trượng phu lẽ nào vì con trẻ mà bỏ việc lớn"

Rồi sai hơn mười tay nỏ cùng nhắm vào Đinh Liễn chực bắn. Trước quyết tâm của Bộ Lĩnh, Nam Tấn Vương hoảng sợ không dám giết Đinh Liễn mà rút quân về. Bộ Lĩnh cười nói với chư tướng:

- À, ra Bộ Lĩnh này không sợ mất con mà lũ kia lại sợ mất đầu!

Sau đó Đinh Liễn được thả về Hoa Lư.

Đánh lui được quân của triều đình Cổ Loa, uy đanh của Bộ Lĩnh càng thêm lừng lẫy. Nhân dân kéo về theo Bộ Lĩnh ngày một đông. Quân dân châu Đại Hoàng càng vui mừng phấn khởi, còn riêng Bộ Lĩnh vẫn chưa vui. Đã nhiều lần đêm không ngủ, Bộ Lĩnh xách gươm đi tuần tra trong doanh trại. Nhìn núi non hùng vĩ tắm ánh trăng, nghe tiếng cuốc kêu ra rả trong ke núi, Bộ Lĩnh càng sốt ruột vì việc lớn chưa thành. Bộ Lĩnh cho gọi chư tướng đến cùng uống thưởng trăng. Thấy chủ tướng không được vui, có người hỏi. Bộ Lĩnh nói với mọi người:

- Non sông bị chia xé, nhân dân điêu đứng tan tác, cảnh nồi da nấu thịt đang diễn ra, ta e rồi đây chỉ làm mồi cho giặc. Trước tình cảnh ấy, các người bảo ta vui sao được.

Nhiều người bàn nên ra quân, Bộ Lĩnh lại nói:

- Con chim bằng bay xa hàng vạn dặm là nhờ có bộ cánh khỏe. Ta có các người như chim có bộ cánh. Nhưng chim thì bay trên trời còn ta lại vác gươm đi dưới đất. Ra quân, nhưng thế chưa vững, lực chưa mạnh, thì sao cho vẹn toàn!

Bộ Lĩnh quyết định đến cửa Bố nương nhờ Trần Lãm. Hiện Trần Lãm đang chiến giữ một vùng rộng lớn ở Bố Hải Khẩu, xưng là Trần Minh Công. Tuy có thế lực mạnh nhưng Trần Lãm đã già yếu. Chi bằng đến nương tựa và tìm cách thuyết phục. Mọi người cho kế đó là phải. Bộ Lĩnh tìm đến gặp Trần Lãm.

Trong một cuộc hội kiến, Trần Lãm hỏi Bộ Lĩnh:

- Đinh tướng quân đến mượn người mượn đất của ta chăng?

Bộ Lĩnh đáp:

- Thưa sứ quân, đất đai, quân dân ở châu Đại Hoàng hay cửa Bố đều là của chung thiên hạ, phải đâu riêng của ông hay của tôi, ma dám nói chuyện vay mượn?

Trần Lãm trừng mắt ngạc nhiên:

- Là của chung?

- Vâng, là của chung. Vì vậy tôi đến đây mong được ông sai bảo để cùng lo việc chung...

Trần Lãm đắc ý cười:

- Tiếng đồn về người con trai của thứ sử Hoan Châu quả không ngoa.

Trần Lãm nhận Bộ Lĩnh làm con nuôi. Thấy mình đã già yếu không lo được việc lớn nữa, ít lâu sau Trần Lãm giao cả binh quyền lại cho Bộ Lĩnh.

Một dải dãi đất rộng lớn từ châu Đại Hoàng đến Bố Hải Khẩu đều thuộc quyền điều khiển của Bộ Lĩnh.

Sau khi mở rộng được địa bàn hoạt động, Bộ Lĩnh lo thu phục nhân tài, rèn luyện quân sĩ, tích lương, chờ thời cơ ra quân để thống nhất đất nước.

Thời cơ đã đến.

Quân do thám cho hay triều đình Cổ Loa sụp đổ. Từ khi Thiên Sách Vương Xương Ngập mất, Nam Tấn Vương Xương Văn lên cầm quyền phải xin mệnh lệnh của chúa Nam Hán, Nam Hán phong cho Xương Văn chức Tỉnh hải quan tiết độ sứ. Thực quyền của triều đình nhà Ngô lúc này không vượt quá một dãi đất hẹp. Cách Cổ Loa chưa đầy vài mươi dặm, đã có nhiều người nổi dậy cát cứ xưng hùng. Nam Tấn Vương có ý muốn đánh dẹp các nơi nhưng bất lưc.

Trong khi đó, đi đánh hai thôn ở Thái Bình. Xương Văn bị tên nỏ mai phục bắn chết. Thấy vậy, nhà tướng cũ của Xương Văn là Lữ Xứ Bình và thứ sử Phong Châu Kiều Tri Hựu tranh chấp nhau làm vua. Ngô Xương Xí (con Xương Ngập) chạy vào Ái Châu giữ đất Bình Kiều. Đỗ Cảnh Thạc, nhà tướng cũ của Ngô Quyền, từ lâu đã rút về chiếm vùng Đỗ Động, đào hào xây thành tính kế lâu dài.

Trước tình thế đó, Bộ Lĩnh đập bàn quát:

- Phường chó chết! Không sớm quét sạch bọn phá nước hại dân này thì non sông có phen lại rơi vào tay giặc ngoài mất!

Bộ Lĩnh triệu tập bộ tướng họp bàn việc lớn. Xung quanh bàn , chư tướng tính kế ra quân.

Đếm trên đầu ngón tay, hiện nay ngoài Cổ Loa còn có mười một sứ quân cần phải thu phục: Kiều Công Hãn giữ Phong Châu, Kiều Thuận giữ Hồi Hồ, Nguyễn Khoan giữ Nguyễn Gia Loan, Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Du, Nguyễn Siêu giữ Phù Liệt, Lý Khuê giữ Siêu Loại, Lữ Đường giữ Tế Giang, Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu, Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm, Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều và Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động.

Trong tình thế ấy ra quân sao cho toàn thắng? Bộ Lĩnh quyết định trước khi đánh dẹp các sứ quân hãy đánh vào Cổ Loa. Cổ Loa là đất trọng yếu, hiện nay đang rối loạn và hầu như vô chủ. Bình được trung tâm Cổ Loa lòng người các châu quận sẽ hướng về theo, các sứ quân tất có kẻ đến xin hàng mà giặc ngoài cũng không còn cơ hội để dòm ngó nước ta nữa. Chư tướng cho là phải. Bộ Lĩnh cử Đinh Liễn cùng Lê Hoàn, Nguyễn Bặc, Đinh Điền đi đánh Cổ Loa.

Quân của Đinh Liễn tiến vào Cổ Loa như vào chỗ không người. Lữ Xứ Bình và Kiều Tri Hựu bất tài, chưa đánh đã tan. Chỉ có Cảnh Thạc là đáng kể, thì đã rút quân về Đỗ Động. Nghe tin đại quân của Bộ Lĩnh kéo đến, nhân dân Cổ Loa vui mừng đem thịt ra đón rước. Đinh Liễn, Lê Hoàn, Đinh Điền và Nguyễn Bặc chiếm Cổ Loa, phủ dụ dân chúng và chia nhau điều khiển công việc.

Sau khi chiếm được Cổ Loa, Đinh Liễn sai Lê Hoàn đi chinh phục các sứ quân quanh vùng. Lý Khuê ở Siêu Loại, Lữ Đường ở Tế Giang, Nguyễn Siêu ở Phù Liệt xin hàng. Được tin triều đình Cổ Loa lục đục, giao châu loạn lạc, chúa Nan Hán là Lưu Xưởng vì đang lo đối phó với nhà Bắc Tống nên không tính chuyện xâm lược nước ta được. Nhưng khi nghe tin Đinh Liễn đã dẹp yên Cổ Loa, Lưu Xưởng bèn sai sứ sang phong cho Đinh Liễn làm Giao Châu tiết độ sứ để ràng buộc.

Biết chuyện, Bộ Lĩnh đem quân đến Cổ Loa gặp Đinh Liễn hỏi:

- Ta nghe nói sứ Nam Hán sang, hắn đến có việc gì?

- Thưa cha, chúa Nam Hán phong cho con làm Giao Châu tiết độ sứ.

Đinh Liễn đưa tờ chiếu của Lưu Xưởng cho cha, Bộ Lĩnh xé nát ra làm nhiều mảnh, nói với Đinh Liễn:

- Có phải đất đai của chúng đâu mà chúng có quyền phong cấp. Giá âu cướp được nước ta chúng cũng chẳng tha đâu!

Bộ Lĩnh đòi giết chết sứ Nam Hán, nhưng sứ đã về nước. Đinh Liễn, người con trai ngoài hai mươi tuổi, đang say sưa với chiến công đầu, bừng tỉnh trước cơn thịnh nộ của bố.

Quả nhiên bình được Cổ Loa thế lực của Bộ Lĩnh ngày càng lớn mạnh. Ngô Nhật Khánh ở Giao Thủy, Phạm Phòng Át ở Đằng Châu cũng lần lượt đến xin hàng.

Trong lúc đó lại có tin Kiều Công Hãn ở Phong Châu và Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động đang rục rịch định chiếm lại Cổ Loa, Bộ Lĩnh quyết định phải gấp rút ra quân đánh dẹp. Bộ Lĩnh cho quân do thám bám sát tình hình Đỗ Động và chia quân đánh châu Phong và châu Ái trước.

Ngô Xương Xí ở Bình Kiều chưa đánh đã tan, chỉ có Kiều công Hãn ở châu phong đóng cửa thành chống cự. Bộ Lĩnh hạ lệnh cho Lưu Cơ vây thành. Đã hai ngày Công Hãn không chịu hàng. Bộ Lĩnh cho quân lính chuẩn bị mồi rơm. Đến ngày thứ ba Công Hãn vẫn chưa chịu hàng. Bộ Lĩnh cho quân lính chuẩn bị mồi rơm. Đến ngày thứ tư Công hãn vẫn chưa chịu hàng. Bộ Lĩnh ra lệnh đốt thành. Nhưng rồi Lưu Cơ lại được lệnh khoan hãy đốt, chỉ tập trung quân phá cổng thành, bắt sống Công Hãn, không được chém giết bừa bãi. Thành bị phá, Kiều Công Hãn bỏ thành theo cổng sau chạy ra bến Bạch Hạc, xuôi thuyền về Giao Thủy.

Sau hàng loạt chiến công, tinh thần quân sĩ thêm phấn chấn. Binh lực của Bộ Lĩnh mạnh như vũ bão, đánh đâu được đấy. Chỉ còn Cảnh Thạc ở Đỗ Động chưa chịu hàng phục. Bộ Lĩnh bàn kế ra quân đánh Cảnh Thạc.

Trong lúc sĩ khí đang lên thì Trần Lãm hấp hối trên giường bệnh. Biết mình không thể sống được nữa. Trần Lãm cho gọi Bộ Lĩnh vào mà nói:

- Tướng quân đến với ta... Nay toàn cõi Nam bang đã về tay tướng quân gần hết... Tướng quân xứng đáng là người đảm đang việc lớn của thiên hạ...

Trần Lãn qua đời, Chôn cất Trần Lãm xong. Bộ Lĩnh bàn chuyện ra quân.

Trong cuộc họp các tướng lĩnh, mọi người tôn Bộ Lĩnh lên làm Vạn Thắng Vương và bàn dời đại bản doanh về Hoa Lư rồi hãy ra quân.

Một tháng sau, từ Hoa Lư đại quân của Bộ Lĩnh chia làm bốn cánh kéo cờ Vạn Thắng Vương lên đường đi đánh dẹp Cảnh Thạc.

Cảnh Thạc, nhà tướng cũ của Ngô Quyền, là người có nhiều mưu trí, đã từ lâu chiếm giữ một vùng rộng lớn, đắp thành ở trang Liệp Hạ để trấn giữ mặt Tây, mặt đông có thành Bảo Đà. Ngày đêm Cảnh Thạc lo luyện quân, tích lương, nuôi chí mưu đồ vương bá.

Đại quân Hoa Lư do Đinh Bộ Lĩnh chỉ huy chia làm bốn mũi tấn công thành Đỗ Động. Thành bị hạ, tướng giữ thành chạy trốn. Hôm đó Cảnh Thạc đang ở Bảo Đả nên thoát chết. Mất thành, Cảnh Thạc thu thập dư chúng quyết tâm kéo về chiếm lại, thề sống mái với Bộ Lĩnh.

Bộ Lĩnh bàn mưu cho Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lê Hoàn chia quân đến Bảo Đà khiêu chiến và đón Cảnh Thạc ở dọc đường. Theo kế hoạch của Bộ Lĩnh, gặp Cảnh Thạc các tướng sĩ giả thua chạy để nuôi lòng kiêu ngạo và chủ quan của hắn, tìm mọi cách dử về Đỗ Động, Cảnh Thạc mắc mưu. Đến nơi thấy cổng thành Đỗ Động đóng chặt, từ trong thành tên bắn ra như mưa. Ngọn cờ Vạn Thắng Vương bay phấp phới trên đỉnh cột càng làm cho Cảnh Thạc thêm phẫn uất. Cảnh Thạc thúc quân vây thành, cố đánh phá, quyết bắt sống Bộ Lĩnh. Bỗng nhiên có tiếng reo hò vang dậy từ tứ phía. Quân của Lê Hoàn, Nguyễn Bắc, Đinh Liễn đã kéo về đánh mặt sau. Bộ Lĩnh liền tung quân dũng mãnh trong thành đánh ra. Bị kẹp vào giữa, Cảnh Thạc liều chết trà trộn vào đám loạn quân cùng vài người thân cận lọt được vòng vây, nhằm hướng Bắc chạy thoát.

Toàn thắng, Bộ Lĩnh dẫn đại quân về Hoa Lư.

Đánh dẹp được Cảnh Thạc, Đinh Bộ Lĩnh chấm dứt thời kỳ loạn mười hai sứ quân kéo dài hơn hai mười năm trời. Đất nước trở lại thống nhất và thanh bình. Nhân dân vui mừng được an cư lạc nghiệp.

Trong lúc khắp nơi tưng bừng vui hội thống nhất non sông, thì ở Hoa Lư, Bộ Lĩnh lên ngôi vua. Bề tôi dâng tôn hiệu Đại Thắng Minh Hoàng đế.

Lên ngôi, nhà vua băn khoăn tìm đất định đô và đặt tên nước. Trong một tiệc có đông đủ bộ tướng và mưu sĩ, Bộ Lĩnh nói với mọi người:

- Chọn đất định đô là việc hệ trọng. Ta vẫn có ý muốn chọn Đàm Gia nhưng Đàm Gia tuy bằng phẳng mà không lợi địa thế, còn Hoa Lư thì hiểm trở nhưng lại hẹp.

Mọi người suy nghĩ, Lê Hoàn bàn nên đóng đô ở Hoa Lư.

Hoa Lư tuy có hẹp nhưng hiểm trở. Từ Hoa Lư vươn tay ra mặt Bắc cũng gần. Mặt sau lưng dựa vào Hoan Ái vững chắc. Vả lại một khi giặc tràn sang, từ Hoa Lư ta có đủ thì giờ đến trở tay đối phó.

Bộ Lĩnh cho là phải. Ngô Chân Lưu, một nhà sư trước đây có dịp cùng Bộ Lĩnh hội kiến, hôm nay cũng có mặt ở đây, nhìn Lê Hoàn thầm phục viên võ tướng có tài mà lời nói cử chỉ lại giống như một văn quan.

Khi bản đến việc chọn tên nước, Bộ Lĩnh chỉ vào Ngô Chân Lưu:

- Nhà sư học rộng biết nhiều, hãy cho ta biết ý nhà ngươi ra sao?

Ngô Chân Lưu đáp:

- Tâu hoàng đế, cứ như kẻ bần tăng này, thì nước ta rộng, dân ta đông, tuy trước đây đã nhiều năm bị đô hộ dưới ách ngoại bang, nhưng cũng nhiều phen dân ta nổi dậy đánh đuổi chúng, giành lại độc lập. Hiện nay một dải non sông tương đẹp vẫn hiên ngang còn đó, ta nên đặt tên nước là Đại Việt.

Bộ Lĩnh nghe nói, gõ gương xuống bàn cười:

- Nhà sư nói hợp ý ta! Họ có đất nước, có vua, có kinh đô của họ, ta cũng có nước, có kinh đô của ta, chịu thua kém gì ai. Rồi đây còn phải đặt niên hiệu riêng của ta nữa chứ!

Mọi người cười vang.

Như chợt nhớ điều gì, nhà vua lại nói tiếp:

- Đại Việt đã là hay nhưng toàn chữ của nước người. Ta phải nói sao cho cả bàn dân thiên hạ hiểu và biết rằng nước ta to lớn. Ta đặt tên nước Đại Cồ Việt có phải hay hơn không?

Ai nấy cười vui sướng với tên nước Đại Cồ Việt, nghe gần gũi với mình hơn. Cho đến vò cuối cùng dốc cạn, nhà vua và mọi người vẫn chưa hết cười nói rộn ràng chung quanh chuyện định đô ở Hoa Lư và đặt tên nước là Đại Cồ Việt.

Mấy hôm sau, một ngày đẹp trời, nhà vua làm lễ lên ngôi hoàng đế. Tại Hoa Lư giữa hai hàng gươm giáo tuốt trần, Đinh Tiên Hoàng ngồi trên chiếc kiệu cửu long tiến về bệ rồng xây bằng đá ở ngoài trời. Tiếng chiêng trống hòa vào nhau vang rền. Ngọn cờ đại mang năm chứ "Đại Thắng Minh Hoàng đế" bay phần phật trên đỉnh cột, Cờ xí rợp trời. Tiếng trẻ em reo hò không lúc nào ngớt.

Từ trên bệ rồng, Đinh Tiên Hoàng bố cáo cho mọi người biết giặc giã đã yên, đất nước từ nay thống nhất. Nước Đại Cồ Việt ra đời và định đô ở Hoa Lư. Tiếng hò reo nổi lên như sấm.

Đinh Tiên Hoàng đưa mắt nhìn mọi người. Chung quanh nhà vua quân sân sát vai nhau, tầng tầng lớp lớp. Đôi mắt nhà vua nhìn bao quát những người đã cùng vào sinh ra tử trong hơn hai mươi năm trời. Những con người ấy cũng thiết tha với đất nước, sẵn sàng bỏ mình vì ngày mai của tổ quốc và gắn bó với nhà vua như cá với nước. Đôi mắt nhà vua bỗng dừng lại ở đám trẻ vác cờ lau chạy nháo nhác vòng ngoài. Hình ảnh thời niên thiếu của nhà vua ba mươi năm trước, nay hiện về trong đám trẻ nhỏ.

Nhà vua bước xuống bệ rồng, dắt Lê Hoàn rẽ đám đông, đi về phía lũ trẻ. Mọi người ngạc nhiên nhìn theo. Trẻ con sợ hãi chạy toán loạn. Nhà vua cười vẫy tay gọi lũ trẻ, chúng chạy đến vây quanh nhà vua. Đinh Tiên Hoàng xoa đầu từng đứa và tiện tay thu mấy bông hoa lau rồi cùng Lê Hoàn về chỗ cũ.

Trên bệ rồng, Đinh Tiên Hoàng một tay cầm hoa lau, một tay nắm chặt đốc gươm, cất tiếng sang sảng:

- Các người theo ta lúc bốn phương loan lạc, đất nước còn bị chia xẻ. Nay bọn giặc cỏ làm tan nát đất nước đã bị quét sạch. Ta ra lệnh cho các người mở tiệc để chào mừng nước Đại Cồ Việt to lớn của chúng ta.

Nói đến đây nhà vua chỉ tay về phía đàn trẻ nhỏ và quay lại ra lệnh cho Lê Hoàn:

- Lê tướng quân nhớ ban cho lũ trẻ kia trâu và gạo nếp để chúng cùng được hưởng vui. Vận nước sau này là ở trong tay lũ chúng.

Ai nấy đều sung sướng. Riêng các cụ già và những người nhiều tuổi lại còn hiểu được sâu sắc hơn việc làm đó của nhà vua. Con người hôm nay lên ngôi, đang đứng oai nghiêm trước mặt họ, không phải là ai khác, chính là cậu bé họ Đinh năm xưa. Ba mươi năm trước đây, ngườ ấy đã từng kết bạn với lẽ trẻ chăn trâu và hàng ngày cờ lau tập trận ở vùng đồi núi châu Đại Hoàng này. Con người ấy đã dẫn họ và con cháu họ vác gươm đi chiến đấu hơn hai mươi năm ròng rã cho nền thống nhất của đất nước mến yêu. Con người ấy đã cùng họ dựng lên nước Đại Cồ Việt, làm rạng rỡ cho tổ tiên cho nòi giống.

Trong ngày vui toàn thắng, giữa kinh đô Hoa Lư còn ngổn ngang hào lũy, nhà vua cùng mọi người đều thấy tự hào và kiêu hãnh, niềm tự hào và kiêu hãnh cao đẹp của một dân tộc biết đoàn kết thành một khối vững mạnh để tồn tại.

Từ khi đô Hoa Lư Trái tim của nước Đại Cồ Việt, tỏa ra một nguồn vui phơi phới như những đỉnh núi đá nhấp nhô, sắc cạnh, vây bọc Hoa Lư đang chọc trời vươn lên trong nắng đẹp.