Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập đòi hỏi gay
gắt sự đổi mới nền hành chính nhà nước để kịp thích nghi và đồng điệu với xu
thế quốc tế hóa. Trong ba nội dung cơ bản của sự đổi mới này, (gồm: các định
chế pháp lý, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và vấn đề con người (tức đội ngũ
cán bộ, công chức) thì vấn đề thứ ba trở nên cấp thiết và mang tính quyết định.
Trước yêu cầu đổi mới đó, nhiều hội thảo, hội nghị, công trình nghiên cứu
khoa học các cấp đã được triển khai để đưa ra những kiến nghị thiết thực giúp
Đảng và nhà nước hoạch định chính sách về cán bộ, công chức hợp lý, khoa học..
Vấn đề cán bộ,
công chức (thời phong kiến nước ta gọi là quan lại) mang đậm dấu ấn lịch sử của
mỗi quốc gia, gắn liền với sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi triều đại. Do
vậy, cần thiết phải nghiên cứu lịch sử về vấn đề này nhằm rút ra những bài học,
kinh nghiệm quý báu và tránh những hạn chế, sai lầm trong quá. Cho đến nay, chỉ
có một công trình nghiên cứu về quan chế nhà Nguyễn tương đối đầy đủ; trong khi đó, các triều đại trước, nhất là thời Lê sơ (thế kỷ
XV) đã để lại những dấu ấn rực rỡ trong vấn đề hoàn thiện quan chế nhưng chưa
được nghiên cứu một cách thấu đáo. Với nhận thức đó tác giả chọn đề tài “TUYỂN CHỌN, SỬ DỤNG VÀ SÁT HẠCH QUAN LẠI
THỜI LÊ SƠ (THẾ KỶ XV) – NHỮNG KINH NGHIỆM CẦN KẾ THỪA” làm đề tài nghiên
cứu cho bài viết này.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘI NGŨ QUAN LẠI TRONG TỔ CHỨC
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI LÊ SƠ (THẾ KỶ XV)
1.1. Khái quát bối cảnh lịch sử xã hội và đội ngũ quan lại thời Lê sơ
1.1.1. Khái quát về bối
cảnh lịch sử xã hội [1]
Sau cuộc kháng chiến chống Minh thành công năm 1427, vua Lê Lợi bắt tay
khôi phục lại trạng thái kinh tế, chính trị, xã hội vốn điêu tàn sau 20 nô lệ.
- Về kinh tế: nhà Lê tiếp tục thực hiện chính sách trọng nông.
Tuy nhiên, khác với những triều đại phong kiến trước, nhà Lê sơ xóa bỏ chế độ
điền trang thái ấp; ban hành chính sách hạn điền và thừa nhận chế độ tư hữu
rộng rãi trong xã hội nhằm khuyến khích nền sản xuất và tích lũy tài sản.
- Về chính trị - pháp lý: Bên cạnh việc quan tâm đến đời sống kinh tế, nhà
Lê còn hoàn thiện các thể chế chính trị - pháp lý. Có thể cho rằng, sau khi đại
thắng quân Minh, uy tín và vị thế của nhà Lê có sự chuyển biến rõ rệt, dân
chúng ủng hộ nhà Lê; các công thần mưu lược ra sức cùng vua Lê khôi phục và
phát triển mạnh mẽ thể chế quân chủ tập quyền. Nhà Lê sơ (nhất là dưới thời vua
Lê Thánh Tông), được coi là thời kỳ cực thịnh trên tất cả các lĩnh vực không
của hơn 1000 năm phong kiến Việt Nam.
- Về tư tưởng: từ cuối thời Trần, Nho giáo đã dần dần lấn át
Phật giáo. Đến thời Lê sơ, vua Lê Lợi (tức Lê Thái Tổ) đã khẳng định Nho giáo
là ý thức hệ chủ đạo trong đời sống tư tưởng của toàn bộ xã hội. Nho giáo có
mặt khắp nơi và được sử dụng trong việc giáo dục, học hành và thi cử của sĩ tử
và thể chế hóa thành pháp luật
1.1.2. Khái quát về đội ngũ
quan lại thời Lê sơ
So với các giai đoạn phong kiến trước (tức các triều đại Lý – Trần – Hồ),
tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ được xây dựng trên những nguyên tắc cụ thể,
trong đó đặc biệt đề cao vai trò đội ngũ quan lại. Khái quát về đội ngũ quan
lại thời nhà Lê thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất: Cơ
sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của đội ngũ quan lại. Có thể cho rằng hoạt động lập pháp và hệ thống pháp luật thời Lê sơ(nhất là
thời vua Lê Thánh Tông) phát triển rực rỡ, nhất là các định chế pháp lý cho tổ
chức và hoạt động của đội ngũ quan lại. Cụ thể các văn bản pháp luật sau quy
định về quan chế nhà Lê[2]:
-
Bộ luật Hồng Đức: Chương Vi chế dành ra 144 điều
quy định quyền và nghĩa vụ của quan lại cũng như các loại tội phạm về chức vụ. Lê triều hội điển quy định về ngạch
bậc, quyền và nghĩa vụ của các quan lại trong Lục bộ
-
Thiên Nam dư hạ tập: quy định về chế độ
đãi ngộ quan lại;
-
Lê triều quan chế: quy định về cơ cấu
tổ chức và phương pháp hoạt động của quan lại trong bộ máy nhà nước trung ương
và địa phương.
-
Ngoài các đạo luật nêu trên còn
có các văn bản (chiếu, chỉ,lệnh,...) quy định về quyền, nghĩa vụ, khảo khóa,
đào tạo, tuyển dụng quan lại.
Thứ hai: số
lượng quan lại trong bộ máy nhà nước và nguồn gốc xuất thân của quan lại. Dưới thời vua Lê Thánh Tông số quan lại (ở vào thời điểm cao nhất) có
khoảng 5370 người, trong đó có 2755 người ở cấp trung ương và 2615 người ở các
cấp chính quyền địa phương. Số lượng kể trên chỉ bao gồm các quan và lại (tức
chưa kể những người hầu kẻ hạ, binh lính,...)[3].
Giai đoạn 1428
-1460: là thời kỳ hậu chiến, nên nhu cầu
chiêu hiền đãi sỹ luôn là bài toán nan giải. Hình thức tuyển dụng quan lại chủ
yếu là tập ấm, tiến cử và bảo cử.
- Giai đoạn
1460 - 1527: vua Lê Thánh Tông tiếp tục thừa
nhận các hình thức tuyển dụng quan lại như trên nhưng chủ yếu nhất là bằng con
đường khoa cử. Nội dung cơ bản trong việc học và thi chủ yếu là hệ thống lý
luận kinh điển của Nho giáo.
Thứ ba: Nho
học là phương tiện cơ bản nhất để đào tạo, tuyển chọn và sử dụng quan lại. Bởi vượt hơn hẳn những ý thức hệ khác, Nho giáo yêu cầu đội ngũ quan lại
phải có những tố chất: khả năng tham chính – trung thành và thanh
liêm. Nội dung chính trị bao trùm lên học thuyết Nho giáo là hướng con
người vào triết lý sống: “Tu thân - tề gia - trị quốc – bình thiên
hạ” mà ở đó, đội ngũ giai cấp cầm quyền giữ vai trò tiên phong.
1.2.
Tước vị và phân loại quan lại
1.2.1. Tước vị của quan lại
Bàn về tước vị trong nhà nước phong kiến Việt Nam, có ba loại chính cần đề
cập: tước – phẩm – tư .
Tước: đây là một loại tước vị cơ bản nhất nên chủ thể được thụ hưởng tước vị
loại này rất hạn chế. Theo Lê triều quan chế, vua Lê Thánh Tông đã chia ra sáu
bậc tước theo thứ tự cao thấp như sau:
Œ Tước vương: đây là loại tước cao nhất và
chỉ để dành phong cho các hoàng tử hay người thừa kế ngôi vua.
Tước công: phong cho các con trai của
hoàng thái tử và hoàng tử (trừ cháu nội đích tôn), có 24 tư .
Ž Tước hầu: phong cho quan đại thần ở vào
hàng thượng liên với 22 tư. Ngoài ra những người được phong quận công thì cha
và ông được phong hầu.
Tước bá: phong cho quan đại thần ở vào
hàng Thượng ban với 21 tư được bá. Ngoài ra những người được phong hầu thì cha
và ông được phong bá.
Tước tử: phong cho quan đại thần ở vào hàng
Thượng tư với 20 tư. Ngoài ra những người được phong bá thì cha và ông được
phong tước tử.
‘ Tước nam: phong cho quan đại thần ở vào
hàng Thượng chế với 19 tư.
Phẩm: được phong theo chức vụ của quan lại. Vua Lê Thánh Tông đã định ra 9 bậc
phẩm từ cao xuống thấp, cao nhất là chánh nhất phẩm và thấp nhất là tòng cửu
phẩm. Trong cùng một bậc được phân thành hai loại: chánh và tòng. Cao nhất
là Chánh nhất phẩm và thấp nhất là Tòng
cửu phẩm.
Tư: (hay còn gọi là thông tư) nhà làm luật không đưa ra khái niệm về tư nhưng
có thể hiểu tư là một loại tước vị được nhà vua dùng để ban tặng nếu lập công;
nếu quan lại phạm tội thì sẽ bị hạ ngạch tư. Chính vì vậy mà trong Bộ Luật Hồng
Đức, tư được xem như là một loại chế tài áp dụng cho quan lại phạm tội. Tư có
24 bậc, ứng với mỗi bậc có một tên cụ thể.
1.2.2. Phân loại quan lại
Thứ nhất: căn
cứ vào chuyên môn: quan văn và quan võ. Tập hợp những quan văn gọi là Ban văn, tập hợp các võ quan gọi là Ban võ.
Ban văn giúp nhà vua trong các vấn đề về kinh bang tế thế; hoạch định các chủ
trương, chính sách đối nội, đối ngoại về giáo dục, văn hóa, tôn giáo, ý thức
hệ,...
Thứ hai: căn
cứ vào địa vị, vai trò trong bộ máy nhà nước có hai ngạch quan và lại. Quan là những vụ cao cấp của triều đình (ví dụ quan đại thần) hay những
người giữ chức vụ thủ trưởng; lại là những người giúp việc, trợ lý cho quan
(tương đương với chức danh chuyên viên trong cơ quan nhà nước ngày nay
Thứ ba: căn cứ
vào phạm vi lãnh thổ: quan lại trung ương và quan lại địa phương. Quan lại ở trung ương làm việc triều đình hay những nơi được nhà vua biệt
phái; quan lại ở địa phương làm việc ở các nha môn trong tổ chức chính quyền
địa phương. Theo thống kê của sử cũ, dưới thời vua Lê Thánh Tông trong cả nước
có khoảng 5370 quan lại, trong đó 2755 quan lại trung ương và 2615 quan lại làm
việc ở địa phương[4].
Thứ tư: căn cứ
vào chức năng: quan lại hành pháp và quan lại tư pháp. Quan lại với chức năng hành pháp có nghĩa vụ triển khai, thi hành các đạo
luật của nhà vua trên thực tế; giữ vai trò quản lý nhà nước trên các lĩnh vực
bằng các chủ trương, quyết sách của nhà vua. Trong khi đó, quan lại tư pháp có
chức năng xét xử.
1.3.
Khái quát về đội ngũ quan lại trước
thời Lê sơ
Thứ nhất: về
đào tạo, tuyển dụng quan lại. Đội ngũ quan lại của nhà Lý – Trần
còn được hình thành bằng nhiều nguồn khác nhau, trong đó nổi bậc hai nguồn cơ
bản:
·
Những công thần khai quốc có công lớn với triều đình. Nhà Lý - Trần sở hữu đội ngũ công thần khai quốc, tướng lĩnh võ biền
trung thành nên họ được trọng dụng và cất nhắc vào những vị trí quan trọng trong
bộ máy nhà nước.
·
Tập ấm làm quan (cha truyền con nối).
nhà Lý - Trần chỉ dành cho con cháu các vương hầu. Nhà Trần áp dụng chính sách
hôn nhân nội tộc suy cho cùng để duy trì dòng dõi vương triều Trần và là lực
lượng hậu duệ để tập ấm làm quan.
Thứ hai: sử dụng
quan lại. Nhìn chung việc sử dụng quan lại
thời Lý – Trần không theo nguyên tắc nhất quán nào, vừa thể hiện tính chắp vá,
vừa thể hiện cảm tính của các hoàng đế, lúc cần nhân tài mới tổ chức khoa thi.
Bên cạnh tính chắp vá, việc sử dụng quan lại còn mang nặng cảm tính. Vì không
thực sự coi trọng việc sàng lọc quan lại, nhân tài bằng khoa cử nên hoạt động
cất nhắc, bổ nhiệm và sử dụng quan lại theo cảm nhận chủ quan duy ý chí của
hoàng đế và bầy tôi cao cấp (tức hàng quan ngũ đại thần).
Thứ ba: chế độ đãi ngộ: các vương triều Lý
– Trần gần như không trả lương, bổng trực tiếp (bằng tiền) cho quan lại. Chế độ
đãi ngộ, lương bổng giai đoạn này được thực hiện bằng hai cách: tùy theo phẩm
hàm, tước vị, địa vị trong bộ máy nhà nước mà mỗi quan lại, thân vương được nhà
vua giao cho việc thu thuế của dân chúng trong một vùng (giao cho dân một miền
để đặt người thuộc viên thuế ruộng đất hồ, ao đánh vào dân cày dân cá mà lấy
lợi); hoặc giao cho họ một vùng đất (gọi là điền trang thái ấp) để họ chiêu mộ
dân cày nghèo khổ tứ tán khắp nơi cày cấy trên mảnh ruộng đó và nộp một phần
sản phẩm cho điền chủ.
CHƯƠNG 2:
TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI THỜI LÊ SƠ
2.1. Các hình thức tuyển chọn quan lại
2.1.1. Lệ tập ấm (hay còn
gọi là lệ ấm sung)
Tập ấm (còn gọi là
nhiệm tử) là hình thức tuyển chọn quan lại xuất hiện sớm nhất ở nước ta, trở
một tập quán chính trị theo kiểu “con vua
thì lại làm vua”. Theo lệ này, con cháu trai nhờ vào ân trạch của cha ông
mà được tuyển bổ vào một chức quan nào đó. Trường hợp không có con trai thì
được phép nhận nuôi một người thân thích trong họ để cho hưởng tập ấm.
2.1.2. Lệ bảo cử, tiến cử
Sau khi lên ngôi được một năm, Lê
Thái Tổ đã ra sắc chỉ cầu người hiền tài, chỉ dụ rằng:“ Ta nghĩ việc thịnh trị tất do dùng được người hiền; muốn có người hiền
phải có người tiến cử, là vua thiên hạ phải lấy việc ấy làm trước đã... Nay ta
gánh công việc nặng, ngày đêm lo sợ như đến chỗ vực sâu, chỉ vì chưa tìm được
người hiền giúp nước nên hạ lệnh cho đạo thần văn võ, công hầu đại phu từ tam
phẩm trở lên mỗi người tiến cử một người, hoặc ở triều đình hoặc ở thôn quê,
hoặc đã làm quan hoặc chưa làm quan, nếu có tài văn võ, trí thức, có thể cai
trị dân chúng, tâu lên ta sẽ tuỳ tài bổ dụng”.
2.1.3. Lệ khoa cử
2.1.3.1. Khái quát về hoạt động đào tạo quan lại
Hoạt động đào tạo quan lại dưới thời Lê sơ được
thể hiện qua các nội dung: cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo và quy chế thi
cử:
Thứ nhất: cơ sở giáo dục
Ngay sau khi giành lại độc lập dân tộc, năm Mậu Thân, niên hiệu Thuận
Thiên thứ nhất, vua Lê Lợi hạ chiếu cho trong nước dựng nhà học để dạy dỗ nhân
tài, trong kinh có quốc tử giám, bên ngoài có nhà học các phủ[5].
* Quốc tử
giám: đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Lễ và thực hiện những nhiệm vụ,
chức năng: giảng dạy kinh sách, phối hợp với Bộ Lễ thực hiện việc thi cử, tổ
chức các buổi lễ xướng danh những người đỗ đạt; lưu trữ kinh sách (kiêm chức
năng của thư viện);...
*
Nhà học ở các phủ huyện: theo chỉ dụ năm 1428, vua Lê Lợi cho lập các nhà
học ở các phủ huyện trong cả nước đào tạo, giảng dạy cho những học sinh đã vượt
qua cuộc sát hạch ban đầu để chuẩn bị bước vào các kỳ thi hương.
* Các
trường lớp tư: Thường việc đào tạo này diễn ra tại nhà thầy giáo – những
người vốn từng đỗ đạt trong các cuộc thi, từng làm quan nhưng vì nghỉ hưu hay
lý do nào đó “treo áo từ quan” về quê dạy học. Ngoài ra, việc dạy học tư còn có
thể được tiến hành tại các nhà chùa do các vị sư sãi, cao tăng giảng dạy.
Thứ hai: Nội dung học tập và thi cử
Nội dung của Nho giáo thể hiện trong Tứ thư và Ngũ kinh, gồm:
Tứ thư tức gồm bốn
sách:
Đại học: nội dung cốt lõi của sách Đại học bàn về đạo đức, nhân cách nguyên tắc
sống của bậc quân tử là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Nói cách
khác, sách đại học là sách có trình độ dành cho người trưởng thành có ý chí cầu
tiến trở thành bậc quân tử hay thánh nhân, thánh hiền. Người học Đại học sẽ
thấy “trở vào trong nội tâm làm sáng tỏ
minh đức của mình; trở ra ngoài xã hội thấy rõ minh đức của thiên hạ”[6].
Trung dung: đây là sách dạy làm người giữ cái tâm không chênh lệch bên này bên kia
gọi là trung – giữa; còn nếu giữ thường đúng mực không thay đổi gọi là dung;
trung là đường ngay mà mọi người phải theo, dung là cái lẽ sẵn định để quản mọi
người)[7].
Là bậc chăn dân (vua và quan lại) không giữ đạo Trung dung thì trật tự xã hội
sẽ đổ nát, chính thể suy vong, dân chúng lầm than.
Luận ngữ: sách Luận Ngữ rất coi trọng vấn đề giáo dục với câu nói nổi tiếng của
Khổng Tử “hữu giáo vô loài” (giáo dục
không phân biệt đẳng cấp)[8].
Người làm quan được học Luận Ngữ sẽ tránh được bốn điều mà Khổng Tử cảnh báo “vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã” (không dựa
vào suy đoán chủ quan; không khẳng định tuyệt đối; không câu nệ, cố chấp và
không tự cho mình là đúng)[9].
Mạnh Tử: sách do Mạnh tử viết bàn về vai trò của thiên tử cũng như của tầng lớp
quan lại (bậc quân tử) trong quá trình trị dân. Điểm nhấn trong bộ Mạnh Tử là
bàn về chế độ chính trị và kinh tế (các chính sách kinh bang tế thế). Người làm
quan phải biết làm cho dân giàu: giàu về nhân cách, đạo đức (hằng tâm) và giàu
về đời sống vật chất (hằng sản).
Ngũ kinh: Ngoài Tứ
thư, các nho sinh còn phải nắm vững các kinh văn của bộ Ngũ kinh, gồm năm sách[10]:
Kinh Thi: nghiên cứu và học kinh Thi sẽ biết được tính tình, tập quán và các hoạt
động chính trị, xã hội từ đời nhà Chu trở về trước và sẽ giải mã được sự thịnh
suy, hưng phế của các chế độ chính trị xã hội đó để mở rộng tri thức, tu dưỡng
tâm tính.
Kinh Thư: nghiên cứu Kinh Thư sẽ để học lối hành văn (của người xưa) là “chấp
trung” – tính trung thực, không ba hoa, ngôn từ sáo rỗng hay xảo ngôn. Đây là điều
rất cần thiết cho các nho sinh trong việc thi cử.
Kinh Dịch: bàn về nguồn gốc, sự biến hóa, phát triển của vạn vật, đất trời trong
vũ trụ, trong đó đặc biệt bàn về thuyết “âm dương ngũ hành”. Vì vậy nói Dịch là
thay đổi để theo đạo; đạo ấy là trung chính, lẽ phải, lẽ hay mà sửa mình, chứ
không phải theo đạo ấy để làm trái lẽ công minh, chính đáng. Đây là những tố
chất cần thiết cho đấng minh quân hay bậc chăn dân kiệt xuất.
Kinh lễ: chép về cung cách, hình thức lễ nghi để hàm dưỡng những tình cảm tốt đẹp,
để giữ trật tự cho phân minh và tiết chế tình dục.
Kinh Xuân Thu: sách chép về trạng thái xã hội nước Lỗ thời
Xuân Thu – thời đại loạn của của Trung Quốc cổ đại (thế kỷ thứ V TCN). Trong
bối cảnh đó, nước Lỗ là nơi thể hiện tột đỉnh của sự đại loạn, ở đó tôi giết
vua, vợ chửi chồng,... Tuy nhiên, ẩn sâu bên trong nội dung của kinh Xuân Thu
là cuốn sách tâm truyền về cái đại nghĩa danh và phận, về đường luân lý chính
trị.
2.1.3.2. Thể lệ thi tuyển bằng khoa cử
Thứ nhất: Lệ thi
hương: cuộc thi được tổ chức tại địa phương
mà nho sinh đang sinh sống nên đây là cấp thi thấp nhất, được tổ chức hàng năm.
Thi hương được chia thành 4 kỳ nên hỏng ở bất kỳ kỳ nào thì lập tức bị loại,
người đỗ ở kỳ cuối được xem là thi đỗ kỳ thi hương (gọi là hương cống) và được
quyền thi ở những bậc cao hơn. Mỗi một kỳ thi với nội dung khác nhau.
Thứ hai: Lệ thi hội: ba
năm một kỳ tại triều đình, nhà vua ra đề và
chấm bài. Người vượt qua bốn kỳ thi hương thì
vào thi hội. Người đỗ được 4 vòng trên thì được coi vượt qua kỳ thi hội và có
quyền thi đình.
Thứ ba: Lệ thi đình: Sáu năm tổ chức
một lần tại triều đình. Vua ra đề và chấm bài.
v Xếp
loại thí sinh trúng tuyển: những người trúng tuyển kỳ thi đình được gọi
chung là tiến sĩ nhưng có sự phân biệt cao thấp như sau:
Ba người đỗ đầu
được gọi Đệ nhất giáp hay Tam khôi, gồm;
Ø Đệ nhất giáp Đệ
nhất danh: tức Trạng nguyên
Ø Đệ nhất giáp Đệ
nhị danh: tức Bảng nhãn
Ø Đệ nhất giáp Đệ
tam danh: tức Thám hoa.
‚ Những người đỗ
hạng thứ nhì gọi là Đệ nhị giáp hay Hoàng giáp.
ƒ Những người đỗ
hạng thứ ba gọi là Đệ tam giáp hay còn có danh hiệu chung là Đồng Tiến sĩ.
Với nguyên tắc “hữu giáo vô loài”, nhà Lê sơ đã hình thành đội ngũ quan lại bằng khoa
bảng nổi trội hơn các giai đoạn phong kiến trước và sau đó, cả về chất lẫn
lượng.[11]:
STT
|
Giai đoạn
|
Số khoa thi
|
Số tiến sỹ
|
1
|
Lý – Trần – Hồ (1075 – 1405)
|
18
|
75
|
2
|
Đầu Lê sơ (1427 –
1458)
|
9
|
107
|
3
|
Lê Thánh Tông
(1460 – 1496)
|
12
|
501
|
4
|
Cuối Lê sơ (1499 –
1526)
|
10
|
399
|
5
|
Mạc (1529 – 1592) (Bắc triều)
|
22
|
484
|
6
|
Lê Trung Hưng (1554 – 1592)
|
7
|
45
|
7
|
Lê – Trịnh (1595 – 1787)
|
66
|
729
|
8
|
Nguyễn (1822 – 1919)
|
39
|
558
|
|
Cộng
|
183
|
2898
|
(Bảng: số khoa thi và tiến sỹ của cả nước
qua các thời)
2.1.3.3. Kiểm soát hoạt
động tuyển dụng bằng khoa cử
Thứ nhất: quy
định rõ hành vi cấm trong thi cử và xử lý nghiêm người vi phạm, nhất là người
có chức vụ. Để việc thi cử diễn ra nghiêm túc,
tìm đúng nhân tài cho đất nước và loại trừ các hành vi tham nhũng phổ biến
trong các kỳ thi (nhận hối lội hay nhũng nhiễu tiêu cực), việc thi cử được tổ
chức rất chặt chẽ và pháp luật xử lý nghiêm hành vi gian lận trong khi thi hay
mượn người thi hộ; giám sát truờng thi không cho sĩ tử mang sách vở vào trường
thi (Điều 3 và Điều 5 Chương Vi chế, BLHĐ). Để đảm bảo khách quan trong đánh giá
kết quả thi, pháp luật nghiêm cấm sao chép, đánh tráo bài làm của thí sinh;
không được làm giám khảo nếu có quan hệ nhân thân với thí sinh (Điều 2 chương
Vi chế). Tính khách quan trong việc tuyển chọn quan lại một mặt thúc đẩy mọi
người trong xã hội học tập; đồng thời sẽ triệt tiêu những điều kiện tồn tại của
tệ tham nhũng, lợi dụng việc coi thi, chấm thi để nhũng nhiễu từ những sĩ tử
bất tài.
Thứ hai: bảo
đảm về nhân thân, đạo đức của sỹ tử. Địa phương xác nhận tư cách, đạo đức của sĩ tử thi hương trong bảng kê
khai lý lịch ba đời. Qui định
này vừa tạo điều kiện để có thể thu hút nhân tài một cách rộng rãi, vừa đảm bảo
chặt chẽ trong việc tuyển chọn quan lại để không những chọn được người tài mà
còn là người có đức. Đây là tiền đề tạo ra một đội ngũ quan lại tài đức vẹn
toàn, biết chăm lo cho đời sống người dân và không dễ bị tha hóa bởi lợi ích cá
nhân[12].
Thứ ba: giám
sát hoạt động đào tạo, thi cử. Để bảo đảm
công bằng, khách quan, tránh tiêu cực trong thi cử, hoạt động của những cơ quan
này vừa chịu trách nhiệm trước nhà vua; đồng thời chịu sự giám sát của Bộ Lễ và
Lại Khoa. Nhất là Lại Khoa được nhà vua giao phó việc kiểm tra hoạt động thi
cử, tuyển dụng; nếu phát hiện những biểu hiện gian lận, tiêu cực thì trước hết,
Lại Khoa có quyền đàn hạch (chất vấn) Bộ Lại; đồng thời báo cáo và tham mưu, tư
vấn cho nhà vua biện pháp xử lý.
2.2. Sử dụng quan lại
2.2.1. Nguyên
tắc sử dụng quan lại:
- Áp dụng chính sách tản quyền trong việc phân công chức năng, nhiệm vụ cho
đội ngũ quan lại. Tản quyền được hiểu là không
để tập trung quá nhiều công việc vào một cơ quan hay chức quan mà phải chia sẻ
cho cơ quan, chức quan khác. Do vậy, cần
phân công rạch ròi công việc, chức năng, quyền hạn của các cơ quan, chức quan
trong bộ máy nhà nước.
- Phân bổ và sử dụng quan lại theo phẩm hàm,
tước vị và nhất là theo kết quả của các cuộc thi tuyển hay sát hạch.
- Căn cứ vào việc phân loại để quan lại sử dụng đạt hiệu quả cao nhất,
khai thác tối đa năng lực của họ..
2.2.2. Các biện pháp bảo đảm sử dụng quan lại hiệu quả
2.2.2.1. Sát hạch
quan lại (còn gọi là phép “khảo công hay khảo khóa quan lại”).
Thứ nhất: các hình
thức sát hạch: chiếu năm 1471, vua Lê Thánh Tông dụ
rằng: “Đặt ra phép khảo khóa để phân biệt người hay, người hèn, thúc đẩy việc
trị dân. Ba năm sơ khảo một kỳ (xét đầu kỳ) và chín năm thông khảo xét cả lại
rồi mới thi hành thăng, giáng”. Như vậy, có hai hình thức khảo khóa[13]:
Một
là: sơ khảo (ba năm một
lần). Trong trường hợp quan lại làm việc không phạm tội thì cứ lệ 3 năm khảo
khóa một lần.
Hai là: thông khảo: người đã được khảo khóa ba lần liên tiếp (tức 9 năm), không tham tang
phạm pháp, được xét công trạng thì quan phụ trách khảo hạch theo lệ mà xét kỷ
thực sự. Quan viên nào dù đủ chín năm làm việc nhưng hèn hạ, không làm được
việc, kém cỏi, phạm pháp thì không cho thông khảo để thăng thưởng mà còn phải
giáng hạ”. Như vậy khảo khóa lần thứ tư được gọi là thông khảo”.
Thứ hai: kết quả sát hạch
- Luân chuyển
công tác..
- Xử lý kỷ luật.
-
Áp dụng chế độ hồi tỵ: Những người có quan hệ nhân thân với nhau (như: hôn nhân, huyết thống,
đồng hương,…) không được cùng làm việc tại một địa phương hay công sở. Năm Hồng
Đức thứ 19 (Mậu Thân 1488), nhà vua xuống chiếu: “Hễ là anh em ruột, anh em
con chú con bác và bác cháu, cậu cháu với nhau thì chỉ có một người được làm xã
trưởng, không được cùng làm để trừ mối tệ bè phái, hùa nhau”[14].
2.2.2.2. Chính sách đãi ngộ và chế
độ lương bổng.
Một là: chế độ lộc điền. Thông thường những bậc công thần khai quốc, con cháu có mối quan hệ huyết
thống trực hệ với nhà vua sẽ được hưởng chính sách lộc điền. Khi được cấp,
người đó có toàn quyền sở hữu ruộng đất và sau khi chết đi, con cháu của họ
được hưởng thừa kế theo quy định chung.
Hai là: chế độ quân điền. Chiếu năm 1477 (Hồng Đức niên hiệu thứ 8) vua định lệ quân điền như sau: “Phàm công điền của dân đinh các xã (ruộng
đất nhà vua cấp cho các xã để phân cho dân đinh cày cấy), cứ 6 năm một lần quan
phủ, huyện hoặc châu phải kiểm tra, đo đạc, chia ruộng làm ba bậc: nhất đẳng,
nhị đẳng và tam đẳng ( có tài liệu cho rằng ứng với ba loại đất tốt, đất vừa và
đất xấu
Thứ hai: Lệ về tiền
lương và những lợi ích vật chất khác. Ngoài chế độ đãi ngộ bằng ruộng đất nêu trên, quan lại tùy theo cấp bậc sẽ
được hưởng một số tiền phong cho thực ấp và người hầu.
.
CHƯƠNG 3
KẾ THỪA KINH NGHIỆM TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI THỜI LÊ SƠ TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA
3.1. Khái quát thực trạng về vấn đề cán bộ, công chức của nước ta hiện nay
3.1.1. Cơ sở pháp lý trong công tác đào tạo và tuyển chọn
cán bộ công chức.
- Pháp lệnh về Cán bộ công chức của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành năm
1998;
- Nghị định 117/2003/NĐ – CP ngày 10.10.2003 của Chính phủ về việc tuyển
dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức trong các cơ quan nhà nước.
- Quyết định số 10/2006/QĐ – BNV ngày 5.10.2006 của Bộ Nội vụ về việc ban
hành quy chế tổ chức thi tuyển, thi nâng ngạch đối với cán bộ công chức;
- Quyết định số 03/2007/QĐ – BNV ngày 26.02.2007 của Bộ Nội vụ về việc ban
hành Quy tắc ứng xử của cán bộ công chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa
phương.
3.1.2. Thực trạng và những kết quả đạt được từ công tác
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ công chức.
- Nội dung và chương trình đào tạo được điều
chỉnh theo hướng cập nhật kiến thức thực tế; Đặc biệt, trong xu hướng hội
nhập, đội ngũ cán bộ công chức đã được bồi dưỡng và nâng cao kỹ năng về vi
tính, tin học, ngoại ngữ và pháp luật. Ngoài ra, còn chú trọng đến việc tập
huấn, mở các lớp chuyên đề về quốc phòng, thanh tra, soạn thảo văn bản,...
- Các hình thức đào tạo ngày càng đa dạng, tạo
điều kiện để cán bộ công chức lựa chọn hình thức phù hợp với thời gian, năng
lực, chuyên môn,... Các lớp tập trung, không tập trung, ngắn hạn, dài hạn,
tại chức, trong nước và du học,... ngày càng được mở rộng và có sự linh hoạt
cho từng ngành và địa phương
- Đối tượng được đào tạo đa dạng, đáp ứng nhu
cầu của nền hành chính nhà nước là quản lý toàn diện các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Theo đó, chương trình, nội dung và hình thức đào tạo, bồi dưỡng
kiến thức lý luận và thực tiễn cho phù hợp với từng đối tượng.
- Việc tuyển chọn nhân sự cho các cơ quan nhà
nước đang trên con đường đi đến chấm dứt sự ngự trị dai dẳng của nguyên tắc bất
thành văn “con ông cháu cha” (dân gian gọi là CÔCC). Thay vào đó là việc
tuyển chọn bằng thi cử nghiêm túc, nhằm sàng lọc những đối tượng chưa hội đủ
những tố chất, điều kiện cần thiết cho người cán bộ, công chức trong giai đoạn
mới.
- Việc sử dụng nhân sự cũng đã có những chuyển
biến tích cực. Các hình thức lấy phiếu tín nhiệm, bầu hoặc thăm dò dư luận
đã dần khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm trong quá trình vận
dụng vào việc sử dụng cán bộ, công chức cho phù hợp với năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ.
3.1.3. Thực trạng và những hạn chế, khuyết điểm trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng cán bộ công chức.
Để đánh giá
đúng thực trạng những bất cập, khiếm khuyết trong công tác cán bộ hiện nay cũng
như để đưa ra những luận cứ xác thực, tác giả khảo sát thực tế trên 500 phiếu
(đối tượng là cán bộ, công chức ở nhiều tỉnh và thành phố HCM) với chủ đề: “Thực
trạng về việc tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức hiện nay” và cho kết quả
như sau:
1. 71% cho rằng được bố trí công việc phù hợp với chuyên môn, năng lực;
2. 73% không tán thành mức lương và các chế độ đãi ngộ khác đang được hưởng;
3. 81% không đồng ý với việc bổ nhiệm
cán bộ, công chức (vào chức vụ nào đó trước) rồi sau đó mới cử đi học;
4. 65% cho rằng tại cơ quan họ làm việc
có biểu hiện quan liêu, cửa quyền;
5. 39 % thừa nhận có biểu hiện tham nhũng;
6. 77% đồng ý có tình trạng bè phái;
7. 42% đồng ý rằng độ tuổi nghỉ hưu (cả nam và nữ giới) hiện nay không
còn phù hợp;
8. 40% đồng ý nâng độ tuổi nghỉ hưu của nữ giới là 60 tuổi và nam giới là 65
tuổi;
9. 75% cho rằng cơ quan của họ không thường xuyên tổ chức các cuộc thi sát
hạch năng lực, chuyên môn của cán bộ, công chức.
10. 73% thừa nhận các hình thức tuyển
dụng cán bộ, công chức hiện nay mang tính hình thức.
Những hạn chế
này có thể xảy ra do điều kiện khách quan hoặc chủ quan và thể hiện rõ nhất mấy
vấn đề sau:
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ tuy đa dạng nhưng nặng lý thuyết. Phương pháp đào tạo, khoa cử hiện nay còn mang nặng dấu ấn thời phong
kiến, đó là cách học “tầm chương trích cú”. Kết quả tạo ra đội ngũ cán bộ, công
chức xám màu lý thuyết nên khi ứng vào thực tiễn dễ mắc những sai lầm nghiêm
trọng.
- Quá tập trung chú trọng bằng cấp, chứng chỉ
mà không tập trung vào chất lượng đào tạo nên vẫn còn mang nặng bệnh thành
tích, chỉ tiêu. Thực tế không coi trọng chất lượng học hành, thi cử mà xính
bằng cấp nên giữa học hành và bằng cấp diễn ra theo hai chiều hướng sau:
o
Bằng thật - học giả.
o
Bằng giả - không học.
Cả hai hiện
tượng trên đều nguy hiểm cho nền hành chính nhà nước, gây ra dư luận xấu, ảnh
hưởng tiêu cực đến uy tín, danh dự của Đảng và Nhà nước ta.
- Việc tuyển dụng cán bộ, công chức nhiều nơi
tổ chức mang tính hình thức nên không thật trung thực.
- Việc sử dụng cán bộ, công chức cho đúng với
chuyên môn, năng lực cũng cần được xem xét, nghiên cứu cho thấu đáo. Việc sử
dụng không đúng năng lực, chuyên môn hoặc sinh ra tiêu cực, hoặc “chảy máu chất
xám”. Ngoài ra, còn có khuynh hướng vẫn tiếp tục làm công việc nhà nước để “đến
hẹn ra máy ATM” nhưng công việc không hiệu quả, đồng thời tranh thủ lấy giờ
công làm việc tư.
- Hiện tượng suy đồi về đạo đức, tha hóa về
nhân cách, lung lay về tư tưởng; chủ nghĩa cá nhân đang diễn ra phổ biến.
- Một bộ phận đội ngũ những người làm công tác giảng dạy chưa tương xứng với nhu cầu
của người học và nền hành chính nhà nước. Theo thống kê, hiện có khoảng 25%
giảng viên quản lý nhà nước chưa đạt trình độ so với yêu cầu đặt ra. Nguyên
nhân là do họ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: bộ đội xuất ngũ,
cán bộ Đảng, đoàn thể,...chưa được đào tạo vững về chuyên môn. Có đến 53/74 cơ
sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
đang thiếu giảng viên quản lý nhà nước[16].
3.2. Một số kinh nghiệm cần kế thừa trong việc đào tạo, tuyển chọn và sử
dụng quan lại thời Lê sơ trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
3.2.1. Đào tạo cán bộ, công chức phải gắn liền với tuyển chọn, sử dụng. Dưới thời Lê sơ, hầu hết quan lại
được bổ nhiệm đều đã đạt những kết quả nhất định sau các cuộc thi, tức xuất
thân từ khoa bảng. Học, thi đỗ trước, bổ nhiệm sau là nguyên tắc trong công tác
cán bộ, công chức. Trong khi đó, hiện chúng ta đang đi trên con đường ngược lại
- con đường đầy mâu thuẫn, phản khoa học và bất hợp lý: bổ nhiệm trước, đào tạo
sau.
Để có chính
sách tuyển chọn, sử dụng cán bộ công chức hợp lý, khoa học, chúng tôi cho rằng,
mỗi ngành, mỗi cấp phải thực hiện tốt công tác dự báo về nguồn nhân lực trong
ngành theo chiến lược, kế hoạch dài hạn 10 năm, 15 năm,... Từ đó vừa tập trung
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức vừa quy hoạch các cơ sở đào tạo cho sát
với nhu cầu hiện tại và tương lai. Việc đào tạo nhân tài không gắn với kế hoạch
tuyển dụng, sử dụng sẽ đem lại nhiều hệ lụy và tổn thất to lớn.
3.2.2. Kế thừa một số nội dung về sử dụng, sát hạch quan
lại thời Lê sơ
Một là: sử dụng cán
bộ, công chức phải gắn với với việc phân loại để có thể bố trí, sử dụng nhằm
khai thác tối đa năng lực của họ. Thời nhà Lê sơ, mặt dù vấn đề phân loại quan lại chưa được đề cập trong các
văn bản pháp luật nhưng điều này đã thể hiện trong tổ chức bộ máy nhà nước,
trong cách thức đào tạo, tuyển chọn và sử dụng quan lại. Điểm nổi bật nhất là
việc phân biệt rõ giữa quan với lại để làm cơ sở cho việc quy định chức năng,
thẩm quyền, trách nhiệm, chế độ đãi ngộ,... Có thể ở đây chúng ta không kế thừa
vấn đề sử dụng ngôn ngữ mà kế thừa ý niệm, tư tưởng và mục đích của việc phân
loại. Hiện nay trong các văn bản pháp luật cũng như trong cách nói phổ biến
chung nhất là “cán bộ, công chức” để chỉ những người làm việc và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước. Câu hỏi đặt ra là đối tượng là “cán bộ” khác và giống với
khái niệm, đối tượng “công chức” như thế nào? Mặc dù chúng ta có rất nhiều văn
bản pháp quy về vấn đề cán bộ, công chức nhưng điều cần nhất là phân biệt những
khái niệm vừa nêu thì lại thiếu. Nếu không làm rõ những khái niệm vừa nêu dễ
dẫn đến sự đồng nhất giữa hai đối tượng này và sẽ không xác định được vị trí,
vai trò của họ trong bộ máy nhà nước. Vì vậy, việc ghép “cán bộ” vào với “công
chức” để trở thành một định chế pháp lý chung là không khoa học, bản thân định
chế đó xuất hiện những mâu thuẫn nội tại. Bởi hiện chúng ta có hai lực lượng
nhân sự là việc ở hai hệ thống cơ quan khác nhau: một lực lượng làm việc trong
hệ thống các cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp hay cơ quan dân cử
(Quốc hội, Hội đồng nhân dân); một lực lượng làm việc trong hệ thống tổ chức
Đảng và các đơn vị trực thuộc (Mặt trận tổ quốc, các tổ chức đoàn thể, cựu
chiến binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên,...). Do việc không xác định rõ đối
tượng nào là cán bộ, công chức sẽ dẫn đến nhập nhằng việc đào tạo, tuyển dụng,
chế độ đãi ngộ,...
Tóm lại, mỗi
người trong bộ máy nhà nước đều phải được gắn với những danh xưng nhất định
(chính danh) để từ đó xác định định nhiệm vụ, bổn phận của họ (định phận).
Khổng Tử từng dạy rằng, danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận
thì chính sự đổ nát.
Hai là: hạn chế sử
dụng cán bộ, công chức kiêm nhiệm. Bài học lớn nhất được rút ra từ việc sử dụng quan lại thời Lê sơ không cho
phép quan lại kiêm nhiệm nhiều chức danh, công việc. Điều này một mặt tránh
tình trạng lạm quyền, chuyên quyền; mặt khác để quan lại chuyên tâm đầu tư cho
chuyên môn, nghiệp vụ với chức danh, nhiệm vụ đã được giao. Điều này, chúng ta
có thể vận dụng vào việc cải cách cán bộ, công chức theo hướng hạn chế đến mức
thấp nhất việc kiêm nhiệm (tuy nhiên nếu cho rằng, không được kiêm nhiệm thì
rất khó vì chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong giai đoạn này có nhiều khác
biệt với thời phong kiến). Trước hết, không cho phép cán bộ, công chức hành
pháp kiêm nhiệm các chức danh trong cơ quan dân cử. Thực tế hiện nay, rất nhiều
công chức lãnh đạo ở Ủy ban nhân các cấp, các cơ quan chuyên môn địa phương
(sở, phòng, ban,...) đồng thời là đại biểu Hội đồng nhân hay Quốc hội. Chúng ta
đang dần tiến tới một Quốc hội chuyên trách nên càng không thể chấp nhận việc
kiêm nhiệm này.
Ba là: đánh giá cán bộ, công chức bằng phép khảo
khóa. Việc áp dụng phép khảo khóa nhằm đánh
giá năng lực chuyên môn, đạo đức, tư cách của đội ngũ công chức. Theo đó, đào
thải những công chức tha hóa, biến chất; sử dụng công chức phù hợp với năng
lực, chuyên môn hơn, tạo động cơ để họ có ý thức cầu tiến. Điều này có ý nghĩa
đặc biệt đối với bất kỳ tổ chức bộ máy nhà nước cũng như nền hành chính của bất
cứ giai đoạn lịch sử nào. Hiện nay, chúng ta đang trong bối cảnh hội nhập quốc
tế ngày càng sâu rộng trên mọi mặt của đời sống xã hội nên đòi hỏi đội ngũ cán
bộ, công chức phải nhạy bén, sáng tạo và tạo nên ý thức cầu tiến để không ngừng
nâng cao năng lực, trình độ công tác. Tuy nhiên cho đến nay, chúng ta chưa có
văn bản pháp lý tầm “đạo luật” để điều chỉnh vấn đề khảo khóa, sát hạch định kỳ
năng lực, đạo đức của công chức.
Với nhà Lê sơ,
đã có hẳn một đạo luật với tên gọi “Lê triều quan chế”, quy định về các chế độ liên quan đến
quan lại, trong đó dành nhiều điều khoản về phép khảo khóa, như: thời hạn,
phương pháp khảo khóa đối với từng ngạch bậc quan lại và xử lý kết quả khảo
khóa một cách khách quan, công bằng. Vì vậy, nên chăng chúng ta cũng cần có một
đạo luật riêng biệt để thống nhất và chuẩn hóa lĩnh vực hết sức nhạy cảm này.
Thực tế hiện nay, trong nhiều cơ quan nhà nước hay các đơn vị hành chính sự
nghiệp vẫn thường xuyên tổ chức các cuộc thi nâng ngạch, bậc theo định kỳ tuy
nhiên mang tính hình thức. Vì tính chất “nâng
ngạch bậc” nên kết quả của cuộc thi dùng để nâng ngạch bậc hơn là nhằm kiểm
tra năng lực cán bộ công chức. Vì vậy, chỉ khi nào cán bộ, công chức có biểu
hiện rõ ràng vi phạm pháp luật thì mới đặt vấn đề “hạ ngạch bậc” hay xử lý
trách nhiệm. Thực tế này được 75% cán bộ, công chức được tác giả khảo sát đều
cho rằng, cơ quan của họ không thường xuyên tổ chức các cuộc thi sát hạch năng
lực, chuyên môn của cán bộ (nếu có tổ chức thì cũng không thường xuyên và mang
tính hình thức).
Bốn
là: nghiên cứu áp dụng quy định về hồi tỵ. Với quy định hồi tỵ của nhà
Lê sơ không cho phép những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống cùng làm việc
tại một công sở hay trong cùng địa hạt. Mục đích của quy định này nhằm tránh
tình trạng gây bè cánh, cục bộ “gia đình trị” trong các cơ quan nhà nước hay
địa phương. Hơn nữa, với quy định hồi tỵ sẽ tránh tình trạng đan xen, nhập
nhằng giữa các quan hệ hôn nhân huyết thống với quan hệ chính trị.
Năm là: nâng
độ tuổi nghỉ hưu của cán bộ, công chức cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã
hội trong giai đoạn mới. Theo Lịch triều
hiến chương loại chí, thời Lê sơ độ tuổi trí sỹ của quan lại là 65 tuổi, trừ
một số công việc đặc thù thì có thể sớm hơn. Với pháp luật hiện hành, độ tuổi
nghỉ hưu hiện nay nữ 55 tuổi và nam 60 tuổi (trừ một số ngành nghề đặc thù).
Tuy nhiên, việc quy định độ tuổi hưu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như sức khỏe,
giới tính, môi trường làm việc và đặc biệt là tuổi thọ trung bình của dân số.
Độ tuổi nghỉ hưu của cán bộ, công chức hiện nay không thay đổi qua hơn mấy chục
năm; trong khi đó, điều kiện môi trường làm việc, chăm sóc sức khỏe y tế và
tuổi thọ trung bình hiện nay đều có nhiều chuyển biến và gia tăng tích cực. Qua
khảo sát thực tế cho thấy rằng, ở độ tuổi 55 đối với nữ và 60 đối nam khả năng
làm việc còn rất tốt, thậm chí một số lĩnh vực nghề nghiệp, ở vào độ tuổi này
năng lực chuyên môn đạt đến độ chín cao nhất nhưng theo quy định phải nghỉ hưu.
Tuy nhiên, để không lãng phí chất xám, một số nơi tiếp tục chuyển sang ký hợp
đồng lao động đối với những người khi đến tuổi hưu. Qua khảo sát, có đến 42%
đồng ý rằng độ tuổi nghỉ hưu (cả nam và nữ giới) hiện nay không còn phù hợp và đồng ý nâng độ tuổi nghỉ hưu của
nữ và nam giới nhưng vẫn phải có khoảng cách.
3.2.3. Kế thừa chính sách đãi ngộ quan lại
Qua phần trình
bày về chế độ đãi ngộ đối với quan lại (ở Chương 2) nổi trội nhất là tính công
bằng (ở mức cao nhất) giữa hai yếu tố
đầu ra (năng lực, mức độ cống hiến) và đầu vào ( thu nhập). Chế độ đãi ngộ nhà
Lê sơ được xác lập trên những yếu tố: tước, phẩm, ngạch bậc chức vụ, phạm vi
quyền hạn, trách nhiệm,... và đặc biệt còn căn cứ vào kết quả của các cuộc sát
hạch. Gắn việc tăng giảm lương bổng gắn với việc thăng giáng chức vụ, quyền hạn
sau khi sát hạch. Với chính sách này sẽ phòng chống tham nhũng rất hiệu quả;
đồng thời khuyến khích khả năng công hiến của quan lại.
Ngoài ra, cần nghiên cứu áp dụng khoản “tiền dưỡng liêm” đối với một số ngành nghề, công
việc đặc thù. Khái niệm “tiền
dưỡng liêm” chính thức được đặt ra dưới thời Lê sơ. Năm 1498, vua Lê Hiến
Tông đã ban lệnh “cấp tiền quý bổng liêm
khiết” cho quan lại liêm khiết, tận tụy với công việc[17]. Mục đích của việc chi trả này nhằm
góp phần giúp cho quan lại cải thiện mức thu nhập; không bị tha hóa bởi lợi ích
vật chất phi pháp, giữ được bản chất của kẻ sĩ, đó là tính liêm trực, thanh
khiết. Tiền dưỡng liêm – nói cách khác là khoản tiền để nuôi dưỡng tính liêm
khiết cho đội ngũ cán bộ, công chức.
Ngày nay,
trong một số lĩnh vực được nhận thêm khoản tiền gọi là “phụ cấp”, “bồi
dưỡng”,.... Vì vậy, nên chăng cần trả về đúng tên gọi “tiền dưỡng liêm” để người công chức nhận thức đúng đắn hơn về ý
nghĩa của khoản tiền được nhận. Hơn nữa cần quy định minh bạch vấn đề “tiền
dưỡng liêm” trong văn bản pháp luật để tránh tình trạng tùy tiện của
các đơn vị trong việc chi trả khoản tiền này, tạo sự công bằng trong thu nhập
của công chức cùng ngành[18].
3.2.4. Dân chủ hóa công tác cán bộ,
công chức.
Việc bổ nhiệm,
sử dụng và xử lý cán bộ, công chức phải công khai, minh bạch; đồng thời phải
lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của người dân về cán bộ, công chức. Dưới thời Lê
sơ, việc bổ nhiệm, sử dụng và xử lý quan lại không phải là “chuyện nội bộ” của
giai cấp cầm quyền mà được mở rộng cho mọi dân có quyền tham gia, có tiếng nói
riêng của mình về vấn đề này (đây là biểu hiện của dân chủ thật sự và trực
tiếp). Vua Lê Thánh Tông đề ra và thực thi một cách
kiên quyết những chủ trương, biện pháp giám sát, kiểm tra quan lại bằng lệ khảo
khóa. Để nhận biết quan lại có thực sự được dân yêu mến hay không, ngoài đánh
giá của các quan chủ khảo còn có sự tham gia đóng góp ý kiến của người dân.
Để tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền này, nhà vua cùng quan lại
triều đình thường hay thực hiện các chuyến vi hành để nắm tình hình cụ thể. Ngày 7.5.1435, vua Lê Thái Tông cùng một số quần thần ngấm ngầm dò xét ý
kiến, phản hồi của dân chúng đối với quan lại sở tại ở địa phương, kết quả nhà
vua đã triệu tập và hạch tội được 53 vị quan tham và xử lý nặng[19].
Ngoài ra, pháp luật cho phép người dân
quyền tố cáo quan lại. Với chính sách cách tân mạnh mẽ nhằm làm trong
sạch bộ máy nhà nước, góp phần xây dựng và củng cố chính thể quân chủ tập
quyền, nhà Lê hết sức coi trọng quyền tố cáo quan lại của người dân.
KẾT LUẬN
Xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức giỏi về chuyên môn, vững về tư tưởng, lập trường chính
trị, đầy đủ phẩm chất và đạo đức vừa là mục tiêu, vừa là phương thức xây dựng
nhà nước pháp quyền trong giai đoạn mới. Việc nghiên cứu tổng thể quan chế nhà
Lê sơ để đưa ra những kết luận quý báu, giá trị cần kế thừa, đề tài kết cấu
thành ba chương với những nội dung khoa học như sau:
Trong Chương
1, đề tài khái quát những vần đề mang tính lý luận về đội ngũ quan lại, chủ yếu
tập trung vào thời Lê sơ – giai đoạn rất thành công về các chính sách quan lại.
Những vấn đề về vị trí, vai trò, phân loại, chức năng của quan lại được làm
sáng tỏ bằng biện pháp duy vật lịch sử; đồng thời khái quát đôi nét về tình
hình quan lại của các giai đoạn trước và điểm mấu chốt nhất là đội ngũ quan lại
trước đó đã không đáp ứng trước yêu cầu xây dựng chính quyền độc lập tự chủ sau
20 năm bị nô dịch. Tính quý tộc cao độ trong tổ chức bộ máy nhà nước Lý – Trần
đã góp phần kìm hãm phát triển xã hội; quan chế không rõ ràng, thiếu quy củ.
Ở Chương 2 đề tài rình bày hai vấn đề cơ bản nhất của quan chế nhà Lê:
tuyển chọn và sử dụng quan lại. Trước hết, đối với hoạt động tuyển chọn, để làm
rõ tính đa dạng, linh hoạt vấn đề này, tác giả trình bày các hình thức tuyển
chọn quan lại nhưng nổi bật nhất là hình thức tuyển chọn bằng khoa cử. Khoa cử
nhà Lê sơ gồm các nội dung: quy trình và chương trình đào tạo quan lại, quy chế
thi tuyển, tuyển chọn quan lại và kiểm soát hoạt động tuyển dụng bằng khoa cử.
Đây là những nội dung trọng tâm của chương 2. Qua đó, tác giả chỉ ra những ưu –
khuyết điểm trong việc đào tạo tuyển chọn quan lại.
Việc tuyển chọn sẽ trở nên hoài công nếu không gắn liền với vấn đề sử dụng
hiệu quả những con người đã tuyển chọn. Vì vậy, một trong những vấn đề trọng
tâm của Chương 2 là sử dụng quan lại, gồm những nội dung: nguyên tắc sử dụng
quan lại, các biện pháp bảo đảm sử dụng quan lại hiệu quả và sát hạch quan lại
(còn gọi là phép “khảo công hay khảo khóa quan lại”). Trong phần này, tác giả
trình bày các biện pháp sử dụng quan lại mà nhà Lê sơ đã rất thành công, đặc
biệt là vấn đề khảo khóa, sát hạch, chế độ đãi ngộ, chế độ lương bổng,...
Bước ra từ
những nội dung cở bản nêu trên từ lịch sử, trong Chương 3, đề tài kết nối quan
chế thời Lê sơ với vấn đề cán bộ, công chức ngày nay và chỉ ra thực trạng, bao
gồm: những thành tựu và yếu kém của đội ngũ cán bộ, công chức ngày nay. Từ đó,
đề xuất những kinh nghiệm, bài học từ thời Lê sơ để hoàn thiện đội ngũ cán bộ,
công chức hiện nay. Với suy nghĩ đó, tác giả mạnh dạn nghiên cứu lịch sử của
vấn đề này để cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm quý báu mà ông cha ta đã để
lại.
Trân
trọng tri ân !!!
Tác
giả
Tp. HCM,
Tiết lập đông - Kỷ sửu (2009)
[1] Trần Quang Trung - Kế thừa các biện pháp phòng, chống tham nhũng thời nhà Lê
(thế kỷ XV) trong giai đoạn hiện nay ở nước ta – năm 2008, trang 37.
[2] Thiên Nam dư hạ tập - Các văn bản
pháp luật thời Lê thế kỷ XV – XVIII – Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật
[4] Xem Lê Đức Tiết (sđd), trang 41
[5] Xem: Trần Quang Trung (sđd) trang
55
[7] Xem: Đoàn Trung Còn – Tứ thư (sđd)
trang 40
[9] Trí Tuệ
- Luận Ngữ tinh hoa (sđd) trang 182
[10] Xem: Trần Trọng Kim (sđd), trang
150.
[11] Nguyễn Viết Chức – Bùi Xuân Đính – Các làng khoa bảng Thăng Long – Hà Nội –
NXB Chính trị quốc gia, năm 2006, trang 23.
[12] Trương Hữu Quýnh - Công cuộc cải tổ
và xây dựng Nhà nước pháp quyền thời kì Lê Thánh Tông - Tạp chí nghiên cứu lịch
sử năm 1993, trang 37.
[13] Xem: Lê triều quan chế (sđd) trang 32
[14] Xem: Trần Quang Trung (sđd) trang
51
[15] Phan Huy Lê - Chế độ ban
cấp ruộng đất thời Lê sơ và tính chất sở hữu của loại ruộng đất thế nghiệp -
Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 4 năm 1991.
[16] Xem: Nguyễn Cảnh Hợp (sđd), trang
125
[17] Xem: Đại Việt sử ký toàn thư (sđd),
trang 275
[18] Xem: Trần Quang Trung (sđd), trang
76, 77
[19] Xem: Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2
– sđd), trang 571
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét